đặt vấn đề này là mục tiêu phát triển chính của địa phƣơng mình. Đối với công tác giải phóng mặt bằng, đƣợc các cấp lãnh đạo đặt trọng tâm hàng đầu và coi nó là tiêu chí đánh giá năng lực của cán bộ quản lý trong công tác này. Cán bộ quản lý trong giải phóng mặt bằng phải thực hiện đầy đủ chính sách về bồi thƣờng, hỗ trợ theo đúng quy định của pháp luật hiện hành, ngoài ra phải phù hợp với thực tiễn và sự pháp triển chung của xã hội. Từ đó việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn 02 quận Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm mới đạt hiệu quả cao.
Đảm bảo hiệu quả của quản lý Phải thực hiện đƣợc các mục tiêu đã đề ra của 02 quận về công tác giải phóng mặt bằng. Từ thực hiện theo đúng trình tự quy định của pháp luật, cũng nhƣ phù hợp với thực tiễn của xã hội sẽ đạt đƣợc những hiệu quả cao đối với các dự án đang triển khai trên địa bàn quận. Đó là những kết quả mà các cấp lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện đúng quy trình của Quyết định số 23.2014/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội. Tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, xã hội chung của toàn quận.
Đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ Trong cùng một thời điểm, theo yêu cầu tiến độ giải phóng mặt bằng, vị trí nhƣ nhau thì đƣợc bồi thƣờng nhƣ nhau. Công bằng ở đây là đảm bảo hài hòa lợi 11 ích của các bên có liên quan và đảm bảo lợi ích của cả 03 đối tƣợng: Nhà nƣớc, Chủ đầu tƣ và ngƣời dân có đất bị thu hồi. Quy định quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các bên trong công tác giải phóng mặt bằng. Luật đất đai năm 1998 quy định “Đất đai thuộc sở hữu Nhà nƣớc”, từ quy định này chúng ta có thể thấy đƣợc lợi ích nghiêng về phía Nhà nƣớc, lợi ích của Nhà nƣớc áp đặt các biện pháp bắt buộc có liên quan đến đất đai đối với ngƣời dân sử dụng đất.
Tuy nhiên Luật đất đai 2003 và hiện nay là Luật đất đai 2013 ra đời đã sửa đổi từ “đất đai thuộc sở hữu Nhà nƣớc” thành “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nƣớc thống nhất quản lý” mới thấy đƣợc hết tính đầy đủ của nó. Nhƣ vậy mới thấy lợi ích của Nhà nƣớc sẽ gắn liền với lợi ích của ngƣời dân. Nhà nƣớc có quyền áp đặt việc thu hồi đất của ngƣời dân sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế … nên ngƣời sử dụng đất bắt buộc phải tuân thủ. Tuy nhiên khi Nhà nƣớc thu hồi đất Nhà nƣớc có trahcs nhiệm bồi thƣờng đối với giá trị quyền sử dụng đất, tài sản hợp pháp gắn liền với đất cho ngƣời có đất bị thu hồi đồng thời hỗ trợ nhằm tạo đời sống ổn định, ổn định sản xuất đối với những ngƣời dân có đất bị thu hồi, đảm bảo mặt bằng chung về chính sách đối với tất cả những ngƣời dân có đất bị thu hồi cũng nhƣ đảm bảo hài hòa quyền lợi của Nhà nƣớc, Chủ đầu tƣ và những ngƣời dân có đất bị thu hồi.
Công khai, dân chủ chính là công khai, phổ biến cho tất cả các đối tƣợng bị thu hồi đất, trong diện giải tỏa mặt bằng rõ các chính sách, mục tiêu, nhiệm vụ của dự án có liên quan. Công khai các văn bản pháp lý, các văn bản về quy mô, cơ cấu dự án, sơ đồ khu đất bị thu hồi và đặc biệt là chính sách, phƣơng án bồi thƣờng, hỗ trợ cho các hộ gia đình có trong phƣơng án đã đƣợc cấp có thẩm quyền phê duyệt cho nhân dân đƣợc biết, tạo niềm tin trong dân chúng. Dân chủ trong phƣơng án bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ là một yêu cầu quan trọng. Bồi thƣờng, hỗ trợ đúng đối tƣợng, đúng khung giá và đúng hình thức đã đƣợc quy định.
Không phân biệt giữa ngƣời dân thƣờng với những ngƣời có “quan hệ” hay tự ý thay đổi mức bồi thƣờng, hỗ trợ, không theo quy định của Nhà nƣớc. Có nhƣ vậy mới tạo đƣợc lòng tin của nhân dân, đảm bảo mặt bằng chung về 12 chính sách bồi thƣờng, hỗ trợ, ngƣời dân sẽ tự giác nhân tiền bồi thƣờng, hỗ trợ và bàn giao mặt bằng cho tổ chức làm nhiệm vụ giải phóng mặt bằng. Đảm bảo tiến độ theo kế hoạch giải phóng mặt bằng đã được UBNDcấp huyện phê duyệt Đảm bảo tiến độ nhanh chóng, kịp thời, chính xác là một yêu cầu quan trọng và cấp thiết của quản lý công tác giải phóng mặt bằng. Nó ảnh hƣởng đến nhiều mặt khác nhau của đời sống, xã hội nhƣ: kinh tế, chính trị, văn hóa, tƣ tƣởng… Công tác giải phóng mặt bằng nếu đảm bảo đúng yêu cầu này sẽ đẩy nhanh tiến độ thi công công trình và đƣa công trình vào sử dụng đúng thời gian và kế hoạch nhƣ đã đề ra.
Ngƣợc lại, công tác giải phóng mặt bằng lại diễn ra chậm do nhiều nguyên nhân sẽ ảnh hƣởng đến tiến độ thi công công trình xây dựng, dự án đầu tƣ, gây thiệt hại cho vốn tƣ nhân hoặc ngân sách của Nhà nƣớc. Công tác giải phóng mặt bằng diễn ra nhanh chóng sẽ rút ngăn thời gian thi công. Việc thi công công trình hoàn thành vƣợt kế hoạch sẽ mang lại nhiều lợi ích trong thời đại ngày nay. Ngoài ra còn phải đảm bảo yêu cầu chính xác.
Ngƣời thực hiện công tác giải phóng mặt bằng phải đúng thẩm quyền đƣợc giao, đúng đối tƣợng sẽ tránh đƣợc tình trạng “trên bảo dƣới không nghe” và hạn chế đƣợc các tệ nạn nhƣ tham ô, tham nhũng từ một số cán bộ thoái hóa, biến chất. Nội dung quản lý Nhà nước đối với công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn quận a. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và xây dựng Thực hiện và làm tốt việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã là cơ sở pháp lý cho việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất. Phân bổ quỹ đất đai hợp lý cho các ngành, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm, có hiệu quả, tạo điều kiện cho các dự án đầu tƣ, hình thành các vùng sản xuất tập trung nhằm khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh đất đai ở từng vùng.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đúng mục đích còn hạn chế việc lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích sử dụng đất một cách tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp; ngăn chặn các hiện tƣợng tiêu cực, tranh 13 chấp, lấn chiếm, hủy hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trƣờng, đảm bảo an ninh – chính trị. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã thực sự trở thành công cụ cho công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai, là căn cứ pháp lý để giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất. Việc thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất góp phần tạo động lực thúc đấy kinh tế - xã hội phát triển, đáp ứng đƣợc nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tƣ, tăng nguồn thu từ đất, từng bƣớc đƣa công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn tỉnh vòa nề nếp.
Nhờ làm tốt công tác quy hoạch sử dụng đất nên việc sử dụng đất đai đảm bảo đúng mục đích, hiệu quả nhƣ đã đề cập ở trên. Chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Hàng năng, UBND thành phố Hà Nội căn cứ báo cáo, đề xuất và tình hình thực tế tại các quận, huyện ban hành khung đơn giá bồi thƣờng, hỗ trợ. Trong đó gồm bồi thƣờng các loại sau: * Các khoản bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất: Theo Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà Nội thì việc bồi thƣờng, hỗ trợ cho ngƣời bị thu hồi đất bao gồm: Bồi thƣờng về đất, chi phí hợp lý đầu tƣ vào đất còn lại. Bồi thƣờng, hỗ trợ về tài sản có gắn liền với đất, bồi thƣờng di chuyển mồ mả, cây trồng, vật nuôi.
Các khoản hỗ trợ khác gồm hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phƣờng, thị trấn; hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm, thƣởng tiến độ giải phóng mặt bằng. Bố trí tái định cƣ đối với các trƣờng hợp thu hồi đất ở có đủ điều kiện theo điều 79 Luật đất đai 2013, điểm a, khoản 1 điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ và điều 7 Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà Nội. * Điều kiện để đƣợc bồi thƣờng về đất: 14 Theo điều 75 Luật đất đai năm 2013 thì điều kiện đƣợc bồi thƣờng về đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng gồm các trƣờng hợp: - Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chƣa đƣợc cấp, trừ trƣờng hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài thuộc đối tƣợng đƣợc sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chƣa đƣợc cấp. - Cộng đồng dân cƣ, cơ sở tôn giáo, tín ngƣỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nƣớc giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để đƣợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chƣa đƣợc cấp.