Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TOÁN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở nước ngoài Trong những năm đầu của văn minh nhân loại có rất nhiều nhà tư tưởng vĩ đại đã dày công nghiên cứu về giáo dục và họ cũng chính là những nhà giáo dục vĩ đại của nhân loại như: Quản Trọng (725-645 TCN), người dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục cho rằng: “Kế hoạch trọn đời chẳng gì bằng trồng người.
Chung thân chi kế mạc như thu nhân”. Còn Khổng tử (551- 479 TCN) thì lại đề cao vai trò của học sinh và rất coi trọng tính tích cực nhận thức của người học, người thầy ở vị trí khai mở, hướng dẫn, còn mọi vấn đề do người học tìm ra. Ông cho rằng đó chính là chìa khóa dẫn đến thành công. Ở Phương Tây, Socrate (469- 399 TCN) đã dạy học bằng phương pháp đàm thoại, nâng cao vai trò của hoạt động học qua trao đổi, góp ý.
Ông cho thấy việc học là vô cùng, liên tục và kéo dài. Sự nhận thức của con người qua việc nhận ra, hiểu biết và ý thức đều cho thấy rằng còn người còn thiếu hiểu biết. Trong thời gian này Giáo dục học chỉ được xem là một phần của Triết học [30]. Đến cuối thế kỷ 16, giáo dục học mới chính thức tách khỏi Triết học để trở thành một ngành khoa học riêng biệt.
Những nhà giáo dục tiêu biểu trong giai đoạn này là: Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1592-1670), người sáng lập ra hình thức tổ chức dạy - học lớp bài, đưa ra những yêu cầu cải tổ nền giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Theo ông, dạy học phải làm như thế nào để người học tự tìm tòi, suy nghĩ để tự nắm bắt lấy bản chất của sự vật và hiện tượng [19]. Tiếp theo đó, John Dewey (1859-1925), nhà sư phạm người Mỹ, đã đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn để bổ sung vào kiến thức của học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên. Ông đặc biệt chú ý đến hoạt động học khi viết: “Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của 8 học sinh”.
Đây là ý tưởng khởi nguồn cho triết lý “Lấy học sinh làm trung tâm trong giáo dục”[25]. Ngày nay, giáo dục học đã có những nghiên cứu chuyên sâu để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội như: Tài liệu “Năng lực và các ý tưởng học Toán và nguồn cảm hứng cho sự phát triển của giảng dạy và học tập toán học ở Đan Mạch” của Đại học Roskilde, Đan Mạch, tháng 10 năm 2011. Hay Cohen & Hill (1998) với tác phẩm “Chính sách dạy học và hoạt động của lớp học: Cải cách Toán học ở California”. Các nhà QLGD Nga rất quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dạy học, giáo dục thông qua các biện pháp quản lí và cho rằng kết quả các hoạt động của nhà trường phụ thuộc vào việc tổ chức và quản lí của đội ngũ GV.
Nhiều tác giả như V. Xukhomlinxki đã đưa ra một số công việc quản lí của hiệu trưởng trường phổ thông, trong đó có đề cập đến việc xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, tổ chức hội thảo khoa học trong đội ngũ giáo viên về các vấn đề đổi mới quá trình dạy học, phương pháp dạy học và giáo dục học sinh, tổ chức dự giờ và phân tích bài học. Lịch sử nghiên cứu về hoạt động dạy học và quản lí hoạt động dạy học ở Việt Nam Trước tiên phải kể đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, người cho rằng giáo dục phải gắn với với mục tiêu, nhiệm vụ của đất nước trong từng thời kỳ, nội dung giáo dục phải toàn diện và học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực tiễn. Để thực thực hiện tư tưởng của Bác về giáo dục, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục và quản lí giáo dục, cụ thể như: Tác giả Trần Kiểm với tài liệu “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lí giáo dục” đã khái luận về phương pháp luận macxit, tư tưởng Hồ Chí Minh, các cách tiếp cận hiện đại, ví dụ, sơ đồ PERT, 5 tiêu chuẩn SMART, thang bậc nhu cầu do Maslow đề ra…[18].
Đi vào nghiên cứu cụ thể một nhân tố cấu trúc của hoạt động dạy học, tác giả Phan Trọng Ngọ về “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường” và tác giả Lê Văn 9 Tiến với tác phẩm “phương pháp dạy học môn Toán”, các tác phẩm trên đã trình bày đầy đủ về PPDH dạy học nói chung và PPDH môn Toán nói riêng và các tình huống điển hình trong DH môn Toán ở trường phổ thông hiện nay [22] Với tác phẩm “Giáo trình PPDH môn Toán ở THPT theo định hướng tích cực” tác giả Bùi Thị Hường đã đi sâu vào nghiên cứu PPDH nhằm PTNL HS. Tài liêu này đã chỉ ra cách thức GV tiến hành hoạt động dạy để PTNL HS. Bên cạnh HĐ dạy của GV còn có HĐ học của HS. Nếu HS chủ động, tích cực, tự giác, biết phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì học sinh sẽ nhanh chóng nắm vững tri thức, phát triển toàn diện nhân cách [15].
Tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, một nhà quản lý giáo dục đã nghiên cứu sâu và cho xuất bản tuyển tập “Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” qua đó, thấy được mối liên kết của ba mặt nói trên, tác giả Nguyễn Văn Đản có công trình nghiên cứu về “Tổ chức họat động học”, Nguyễn Duy Cần nghiên cứu về “Tôi tự học”, Đỗ Linh - Lê Văn nghiên cứu về “Phương pháp học tập hiệu quả”, Nguyển Văn Hấn nghiên cứu “ Làm sao để học hiệu quả”, Quang Hồng nghiên cứu “ Bí quyết học tập hiệu quả ”…[25]. Các công trình nghiên cứu nêu trên đã tập trung nghiên cứu đầy đủ các nội dung của HĐDH, quản lí HĐDH, đặc biệt trong thời gian gần đây có nhiều tác phẩm nghiên cứu HĐDH môn Toán và DH theo định hướng PTNL HS, nhưng quản lí HĐDH môn Toán theo định hướng PTNL HS chưa được nghiên cứu nhiều. Đây là đề tài chuyên sâu, có tính khả thi cao trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Khái niệm cơ bản 1.
Quản lí trường học 1. Quản lí Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: Giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với XH và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này làm nảy sinh nhu cầu về quản lí. Khái niệm quản lí đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, điển hình như: Tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực…) 10 trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18].
Theo tác giả Trần Hồng Quân: “Quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách thể quản lí (người bị quản lí) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [26]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lí là quá trình gây tác động của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt mục tiêu chung” [2]. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc lại cho rằng “Hoạt động quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[11]. Từ những cách tiếp cận khái niệm quản lí nêu trên, chúng ta thấy quản lí là một hệ thống bao gồm hai nhân tố là chủ thể quản lí và khách thể quản lí.
Hai nhân tố này có quan hệ tương hỗ với nhau nhằm thực hiện mục đích chung của tổ chức. Chủ thể quản lí là người đề ra các mục tiêu cần phải đạt được, những chủ trương, biện pháp cần thực hiện, huy động các nguồn lực, điều hành hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Còn khách thể quản lí là người chịu sự tác động của chủ thể quản lí, thực hiện các quyết định quản lí nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Như vậy, quản lí là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều phối các nguồn lực nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
Quản lí giáo dục Quản lí giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến, lên trạng thái mới về chất [18]. Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất [20]. 11 Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, xác định mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục đào tạo giai đoạn 2011-2020 viết: “Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”[25]. Theo những khái niệm trên, quản lí giáo dục bao gồm các nhân tố cơ bản như: Chủ thể quản lí giáo dục, đối tượng và khách thể quản lí giáo dục, mục tiêu giáo dục.
Chủ thể quản lí giáo dục và đối tượng giáo dục có sự khác nhau đối với những quy mô giáo dục khác nhau. Mục tiêu giáo dục có sự thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể, được thực hiện thống nhất từ Bộ GDĐT đến đến từng trường học.