Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về quản lý hoạt động đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ vừa làm vừa học. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ vừa làm vừa học ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trung cấp chuyên nghiệp hệ vừa làm vừa học ở Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Điện Biên. 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC 1.
Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ khi đất nước giành được độc lập, chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tới việc giáo dục cho mọi người, mong muốn của Bác Hồ trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh thành lập Nhà bình dân học vụ, chống nạn thất học và các lớp bình dân học vụ được triển khai trên toàn đất nước Việt Nam, Người coi diệt giặc dốt như diệt giặc ngoại xâm. Với quyết tâm: Phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái. Bác Hồ kêu gọi toàn dân không chỉ học tập, mà còn kêu gọi mọi người, tất cả cán bộ và nhân dân phải học tập suốt đời. "Chúng ta phải học và học tập suốt đời, còn sống thì phải học, còn phải hoạt động cách mạng" Các chủ trương, chính sách quan trọng về phát triển Giáo dục và Đào tạo nói chung, giáo dục không chính qui nói riêng của Đảng và Nhà nước đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý và hình thành nền tảng xã hội cho việc xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời.
Quan điểm: Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển. Giáo dục là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Để thực hiện các chủ trương lớn này Đảng, Quốc hội, Chính phủ cũng đã có hàng loạt các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị… như Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII (1993), Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII (1986), Nghị quyết Trung ương 6 khoá IX (2001), Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, Nghị quyết 37 của Quốc hội, Nghị quyết đại hội Đảng X. Báo cáo chính trị Đại hội Đảng VI (1986) đã khẳng định vai trò của giáo dục không chính qui trong hệ thống giáo dục: Bố trí hợp lý cơ cấu giáo dục, thể hiện tính thống nhất của quá trình giáo dục, bao gồm nhiều hình thức đào tạo và bồi dưỡng, chính quy và không chính quy.
5 - Nghị quyết TW 4 khoá VII năm 1993 Đảng ta đã đặt ra yêu cầu: Cần thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người. Và xác định: Học tập suốt đời là quyền lợi, trách nhiệm của mỗi người dân. - Nghị quyết TW 2 khoá VIII năm 1996 tiếp tục khẳng định chủ trương thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục "Tạo điều kiện ai cũng được học hành"; "tạo cơ hội cho mọi người đi học, học ở trường lớp và tự học suốt đời, người biết dạy người chưa biết, người biết nhiều thì dạy người biết ít, mỗi người phải không ngừng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ. Phát triển giáo dục và các loại hình trường học với đòi hỏi của tình hình mới, với nhu cầu học tập của tuổi trẻ và của toàn xã hội, giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân.
Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Mọi người đều có trách nhiệm chăm lo cho giáo dục. Các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và mọi cá nhân đề có trách nhiệm tích cực góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đóng góp nhân lực, trí tuệ cho sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo". [9] Luật giáo dục đã nêu rõ trong Điều 4 khoản 1: Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính qui và giáo dục không chính qui và đã dành riêng mục 5 chương II đề cập giáo dục không chính qui tại các Điều 44, 45, 46, 47: Mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội.
[18] Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 đã nêu: xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên, suốt đời. Bên cạnh đó giáo dục không chính qui đem lại những tác động sâu sắc đến sự phát triển xã hội và từng thành viên: - Thực hiện xã hội học tập và học tập suốt đời là cơ hội giảm đi tình trạng thất nghiệp và tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều người; - Thông qua giáo dục suốt đời để không ngừng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài; - Giáo dục suốt đời sẽ là cơ sở vững chắc đảm bảo cho dân chủ hoá. 6 - Sự thành đạt của từng cá nhân về mọi mặt trong xã hội là mục tiêu phát triển của xã hội. - Học tập suốt đời giúp định dạng đầy đủ tổng thành viên trong xã hội.
- Xã hội học tập đảm bảo quyền được học tập và thụ hưởng giáo dục của mọi thành viên trong xã hội. Thuật ngữ “Vừa làm - Vừa học” hay còn gọi là “Giáo dục thường xuyên” mới được phổ biến trong hệ thống giáo dục quốc dân vào những năm cuối thế kỷ XX. Bước sang thế kỷ mới, thế kỷ phát triển của công nghệ thông tin, đây tuy không phải là một vấn đề mới nhưng được xem xét với một quan điểm, cách nhìn, cách làm mới về phát triển giáo dục thường xuyên trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển của giáo dục không chính qui là một quá trình đã được đúc kết kinh nghiệm từ truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo của nhân dân ta qua hàng ngàn năm lịch sử, bài học kinh nghiệm lớn lao của lịch sử qua hơn 50 năm xây dựng, phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo ở nước ta kể từ Cách mạng tháng Tám thàng công cho đến nay; cùng với sự kế thừa kinh nghiệm của các nước trên thế giới và các nước trong khu vực.
Trong thời kì phong kiến, Pháp thuộc, giai cấp thống trị chỉ quan tâm chăm lo việc học hành của một số ít con em giai cấp địa chủ, quyền thế. Nhân dân lao động họ tự phải lo cho con em mình học ở các trường làng do các thầy đồ mở lớp dạy với số lượng ít học sinh hoặc một số gia đình có điều kiện hơn thì mời thầy về nhà dạy. Trong thời kỳ hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc ta, giáo dục không chính qui còn được gọi là bình dân học vụ, bổ túc văn hoá. Từ khi đất nước được thống nhất, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới, giáo dục không chính qui được hình thành, phát triển mạnh mẽ với những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.
Điểm thể hiện rõ nhất đó là giáo dục không chính qui đã từng bước có cơ sở pháp lý và được xem song song, bình đẳng với giáo dục chính qui, nên được gọi là giáo dục không chính qui (mà gần đây trong Luật giáo dục gọi là phương thức giáo dục thường xuyên hay hệ vừa làm vừa học). Xuất phát từ yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các đề tài khoa học có liên quan đến vấn đề quản lý hoạt động đào tạo theo hình thức VLVH. Năm 2007, tác giả Nguyễn Văn Đàn nghiên cứu về vấn đề “Thực trạng 7 quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Đại học An ninh nhân dân”. Đề tài tập trung nghiên cứu về phương pháp quản lý các lớp đào tạo theo hình thức VLVH đặt tại trường và một số cơ sở liên kết, mặc dù có nhiều khó khăn về công tác quản lý, nhưng tác giả đã chỉ ra cách thức xây dựng và phát triển chương trình đào tạo hệ VLVH vốn có nhiều bất cập như hiện nay.
Tác giả Lê Thị Liên nghiên cứu về vấn đề “Các biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Đại học Hải Phòng” (2007). Luận văn của tác giả có nêu lên những biện pháp quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH có giá trị khoa học cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của tác giả, đồng thời cũng giúp cho các cơ sở giáo dục khác tham khảo để vận dụng vào công tác quản lý của mình. Năm 2011, tác giả Tô Thị Phương Lan đi sâu tìm hiểu “Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Điện lực”. Công trình trên mới chỉ đề cập tới những vấn đề chung về công tác đào tạo, việc nghiên cứu nâng cao chất lượng đào tạo vẫn chưa thấy tác giả đầu tư một cách cơ bản và hệ thống dưới góc độ lý luận về quản lý và quản lý giáo dục.
Những tài liệu trên của các tác giả là nguồn tư liệu quý có giá trị tham khảo, kế thừa để tôi tiến hành nghiên cứu đề tài của mình. Các khái niệm công cụ cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và tiếp cận từ các góc độ và có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, người ta vẫn tìm thấy ở chúng nét chung, tất cả đều mô tả, giải thích về bản chất, về lý luận và các kỹ thuật làm cơ sở cho hoạt động quản lý.Tayor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
- Mary Parker Follett khẳng định rằng, quản lý là một quá trình hoạt động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại.TS Trần Kiểm Quản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân sách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.