phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục. Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở trƣờng mầm non vùng đặc biệt khó khăn. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở các trƣờng mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở các trƣờng mầm non vùng đặc biệt khó khăn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC, NUÔI DƢỠNG TRẺ Ở TRƢỜNG MẦM NON VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Đầu thế kỷ XX, vấn đề chăm sóc - giáo dục trẻ mầm non đã nhận đƣợc sự quan tâm, nghiên cứu của các nhà giáo dục. Năm 1907, tiến sĩ Maria Montessori đã thành lập trƣờng mẫu giáo đầu tiên tại Roma.
Ngay từ ngày đầu thành lập trƣờng, vấn đề chất lƣợng chăm sóc - giáo dục trẻ đã đƣợc bà hết sức chú trọng. Điều này đƣợc thể hiện qua hệ thống quan điểm và phƣơng pháp giáo dục (phƣơng pháp Montessori). Montessori đặt nền tảng tự do, nhu cầu và hứng thú của trẻ lên trên hết. Khi các nhu cầu của trẻ đƣợc đáp ứng, trẻ phát triển cân đối về thể chất, trí tuệ, tâm lý.
Đặc biệt, trẻ đƣợc tạo động lực để có hứng thú trong việc học và cƣ xử hoà nhã, lịch sự với mọi ngƣời. Phƣơng pháp Montessori sau đó đƣợc phát triển, mở rộng ở các nƣớc châu Âu, Mỹ và các nƣớc khác trên thế giới. Hiện nay, phƣơng pháp này đƣợc nghiên cứu ứng dụng rộng rãi ở các trƣờng MN, nhất là các trƣờng MN tƣ thục và MN quốc tế ở các thành phố lớn của Việt Nam nhằm nâng cao chất lƣợng CS-GD trẻ [8]. Trong công trình nghiên cứu “Chất lượng giáo dục mầm non”, tác giả S.Nhikitina đã đƣa ra quan điểm về chất lƣợng CS-GD trẻ MN, thực trạng chất lƣợng CS-GD trẻ ở các vƣờn trẻ ở Liên bang Nga hiện nay, các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục mầm non.
Theo bà, tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lƣợng CS-GD trẻ đƣợc thể hiện ở các nội dung cơ bản sau [37]: - Sức khỏe và sự phát triển thể chất; - Nhận thức và sự phát triển ngôn ngữ; - Phát triển xã hội và cá nhân; - Phát triển nghệ thuật và thẩm mỹ; 6 Ngoài việc luận bàn về khái niệm chất lƣợng giáo dục mầm non, trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả V.Slobodchikova nhấn mạnh việc sử dụng tích hợp các phƣơng pháp tiếp cận cơ bản để đánh giá chất lƣợng giáo dục, các chỉ số và tiêu chí về chất lƣợng CS-GD trẻ ở trƣờng mầm non. Tác giả cũng đã phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục mầm non gồm yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài [36]. Giáo dục MN ở Úc cũng đƣợc chính phủ hết sức quan tâm. Hiện nay, chính phủ Úc cam kết chất lƣợng phổ cập giáo dục mầm non trong chƣơng trình nghị sự.
Giáo dục mầm non và chăm sóc trẻ là ƣu tiên chiến lƣợc quan trọng đối với Úc [34,35]. Về tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc trẻ, tác giả Robert. Mayer đã nhấn mạnh “Tại sao phải đầu tư vào chương trình chăm sóc và phát triển trẻ thơ từ những năm nhỏ tuổi, coi đây là một phần của chiến lược cơ bản, bởi vì cũng như trước khi xây dựng tòa nhà, ta cần xây dựng một cái nền bằng đá vững chắc trên cơ sở đó làm nền tảng xây nên toàn bộ công trình kiến trúc” (dẫn theo [31]). Trƣớc khi một em bé vào trƣờng tiểu học cũng cần cho nó một nền tảng tƣơng tự.
Chính gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa cộng đồng là những nhân tố tạo nên nền tảng đó. Do đó từ lúc lọt lòng mẹ đến lúc 6 tuổi, trẻ em cần đƣợc sự đầu tƣ, hỗ trợ để phát triển thể chất, tinh thần và hiểu biết xã hội. Việc giáo dục trẻ em trong những năm học ở nhà trƣờng có thành công hay không một phần lớn là tùy thuộc vào những nền tảng có đƣợc trong những năm đầu đời (dẫn theo [30]). Tác giả Callahan Darragh (Trƣờng Walden University- Mỹ) trong công trình “Chất lượng trong dịch vụ nuôi dạy trẻ: vấn đề chất lượng chính là chìa khóa để đánh giá và quyết định lựa chọn trên thực tiễn” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lƣợng CS-GD đối với sự phát triển toàn diện của trẻ [37].
7 Các tác giả La Valle Ivana, Smith Ruth trong cuốn sách “Vấn đề nuôi dạy trẻ chất lượng cao, trong tương lai có nên áp dụng phổ biến?” đã bàn luận về vấn đề CS-GD trẻ, xây dựng trƣờng MN chất lƣợng cao và áp dụng mô hình này trong thực tiễn [39]. Ở Hàn Quốc, hoạt động chăm sóc hƣớng vào trẻ, dành cho trẻ sự chăm sóc và dạy dỗ tốt nhất, đảm bảo cho trẻ có cơ hội vui chơi, hoạt động và giao tiếp một cách tích cực, trẻ đƣợc tự do hoạt động, học tập theo sở thích cá nhân. Giáo viên MN Hàn Quốc đƣợc linh hoạt lựa chọn mục tiêu, nội dung và cách thức giáo dục phù hợp với trẻ và những điều kiện cụ thể của hoạt động này. Trong trƣờng MN luôn có các góc chơi phong phú để trẻ có thể thực hiện các hoạt động đa dạng theo sở thích của mỗi trẻ (dẫn theo [32]).
Ở Canada, việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc và giáo dục trẻ nhỏ là một điều kiện cần thiết để góp phần hình thành phát triển những yếu tố ban đầu của nhân cách và đặt nền móng vững chắc cho việc học tập suốt đời của trẻ. Bậc học này còn đƣợc coi là một bƣớc khởi đầu công bằng trong cuộc sống cho tất cả trẻ em và đóng góp cho công bằng xã hội và hội nhập. Giáo dục MN đƣợc duy trì bằng các biện pháp có hiệu quả về tài chính, xã hội và sự hỗ trợ của cha mẹ và cộng đồng. Tại Canada, các dịch vụ ECEC (EarlyChildhood Education and Care- Chăm sóc và giáo dục mầm non) chính là nhà trẻ và chăm sóc trẻ em.
Để phát triển, nâng cao chất lƣợng GDMN, quốc gia này đã và đang thực hiện nhiều giải pháp quản lý đa dạng và hiệu quả. Hầu hết các cơ sở chăm sóc trẻ em đƣợc quy định theo pháp luật là do tƣ nhân điều hành,thƣờng là trên một cơ sở phi lợi nhuận của các nhóm cha mẹ, ban giám đốc tự nguyện, hoặc các tổ chức phi lợi nhuận khác hoặc trên cơ sở lợi nhuận của cá nhân hoặc doanh nghiệp (dẫn theo [32]). Nhƣ vậy các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài, đã tập trung vào các vấn đề nhƣ giáo dục, chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ cả ở trƣờng công lập và dân lập. Các kết quả đã chỉ ra ý nghĩa và vai trò của chất lƣợng chăm sóc trẻ, giáo dục trẻ và nuôi dƣỡng trẻ thông qua các biện pháp của GV và CBQL nhà trƣờng.
Các nghiên cứu ở trong nước Tác giả Ngô Công Hoàn với công trình Giao tiếp và ứng xử sư phạm đã đƣa ra các vấn đề lý luận về giao tiếp và ứng xử, quá trình xã hội hóa trẻ em, sự phát triển nhu cầu giao tiếp ở trẻ tuổi mầm non, những nguyên tắc ứng xử giữa cô giáo và trẻ em trong quá trình chăm sóc, nuôi dƣỡng và giáo dục trẻ (dẫn theo [31]). Bài báo "Quản lý hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ tại trường mầm non tư thục Vinschool Times City tại Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội” của tác giả Lê Thị Xuân Lý (2017) đã đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc nuôi dƣỡng, hoạt động chăm sóc giấc ngủ; hoạt động chăm sóc sức khỏe và đảm bảo an toànhoạt động giáo dục trẻ tại trƣờng mầm non tƣ thục Vinschool Times City tại Quận Hai Bà Trƣng[29]:đƣa ra các giải pháp quản lý hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dụctại trƣờng mầm non tƣ thục Vinschool Times City tại Quận Hai Bà Trƣng. Tác giả Phạm Thị Phƣơng Loan (2017) với bài báo "Quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ tại trường mầm non công lập trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”[30]đã nghiên cứu, đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lƣợng chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non nói chung và ở trƣờng mầm non công lập trên địa bàn quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội nói riêng. Một số công trình nghiên cứu là đề tài luận văn như: Tác giả Trần Khánh Vân (2015) với đề tài "Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái”[32], kết quả nghiên cứu về lý luận đã chỉ ra khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trƣờng; hoạt động nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ ở các trƣờng mầm non; biện pháp quản lý; quản lý hoạt động nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ ở trƣờng mầm non; từ đó phân tích đánh giá thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ ở các trƣờng mầm non huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái và đề xuất 3 nhóm biện pháp thực hiện đó là: Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ; Nhóm biện pháp nâng cao năng lực chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên; nhóm biện pháp bổ trợ.
9 Tác giả Triệu Thị Hằng (2016), nghiên cứu "Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay”[11].Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các khái niệm nhƣ quản lý; giáo dục mầm non; chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ; Hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ; Quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ, từ đó phân tích thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ tại trƣờng mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay và đề xuất 5 biện pháp thực hiện gồm: Tổ chức các hoạt động tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về công tác chăm sóc, nuôi dƣỡng trong trƣờng mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa trong bối cảnh hiện nay; Nâng cao năng lực chăm sóc, nuôi dƣỡng trẻ cho đội ngũ giáo viên và nhân viên trong nhà trƣờng; Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá, xếp loại; Xây dựng và hoàn chỉnh chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên, nhân viên mầm non; Đẩy mạnh tuyên truyền về giáo dục mầm non và phổ biến kiến thức nuôi dạy trẻ cho các bậc cha mẹ, cộng đồng.