CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN VIỆN TRỢ KHÔNG HOÀN LẠI (ODA) TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) không hoàn lại đã có những đóng góp quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển và giải quyết các vấn đề giáo dục, kinh tế và xã hội ở Việt Nam. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về nguồn vốn ODA đã thu hút nhiều học giả, nhà khoa học quan tâm. Cho đến nay, có khá nhiều công trình nghiên cứu về nguồn vốn ODA và quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA ở Việt Nam và trên thế giới. Có thể nêu ra những nghiên cứu về nguồn vốn ODA theo các vấn đề như sau: 1.
Nghiên cứu về nguồn vốn ODA và nguồn vốn ODA trong giáo dục 1.Nghiên cứu về nguồn vốn ODA Đặc trưng của nguồn vốn ODA Nghiên cứu về khái niệm, đặc trưng của nguồn vốn ODA (viết tắt của cụm từ Official Development Assistance), tác giả Hoàng Minh, Tạp chí Business [8] đã khái quát về khái niệm và những đặc trưng cơ bản về nguồn vốn ODA là ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Về đặc trưng cơ bản của vốn ODA, tác giả đã phân tích những nội dung cơ bản là: Thứ nhất, vốn ODA mang tính ưu đãi. Tác giả đã phân tích sự ưu đãi thể hiện ở những điểm cơ bản là: Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là: Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp.
Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn. Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu 10 tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA. Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn. Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết. Thứ hai, vốn ODA mang tính rang buộc. Tác giả thể hiện quan điểm viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho các nước tài trợ. Những nước cấp tài trợ đòi hỏi nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp với lợi ích của bên tài trợ.
Khi nhận viện trợ các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ không vì lợi ích trước mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ. Tác giả phân tích khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện.
Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. Như vậy, nghiên cứu về khái niệm và đặc trưng của nguồn vốn ODA, tác giả Hoàng Minh, Tạp chí Bussines đã phân tích rõ về thế nào là nguồn vốn ODA và những đặc trưng cơ bản của nguồn vốn ODA.
Tuy nhiên, tác giả chưa đi sâu phân tích rõ về cách quản lý cũng như hiệu quả sử dụng của nguồn vốn ODA. Với khái niệm, đặc trưng của nguồn vốn ODA, tác giả Hữu Đệ, Tạp chí Bussines [7] đã phân tích quan niệm về vốn ODA, và phân loại vốn ODA trên thị trường hiện nay như sau: 11 Tác giả đã phân tích ODA có nghĩa là hỗ trợ phát triển chính thức, được định nghĩa là viện trợ của chính phủ được thiết kế để thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển. Hỗ trợ có thể được cung cấp song phương, từ nhà tài trợ cho người nhận, hoặc được chuyển qua một cơ quan phát triển đa phương như Liên Hiệp Quốc hoặc Ngân hàng Thế giới. Theo quan niệm của tác giả Hữu Đệ, đặc trưng cơ bản của vốn ODA là: Thứ nhất, nguồn vốn hợp tác phát triển.
ODA là một hình thức hợp tác khác giữa chính phủ các nước phát triển, tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển. Đây là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc có chính sách vay với điều kiện ưu đãi. Bên cạnh việc cho vay các khoản vay ưu đãi, bệnh viện trợ sẽ thực hiện cung cấp hàng hóa, chuyển giao khoa học kỹ thuật, cung cấp các dịch vụ khác… Bên nhận viện trợ phải có trách nhiệm sử dụng nguồn vốn vào các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng,…tạo điều kiện phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân. Thứ hai, Nguồn vốn có nhiều ưu đãi.
Các khoản vay ODA có mức lãi suất rất thấp, chỉ dao động từ một vài phần trăm, nếu là ngân hàng thế giới thì khoản vay 0% một năm. Với mục tiêu hỗ trợ các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, ODA có tính ưu đãi hơn bất kỳ một nguồn vốn nào khác, phải kể đến đó là: thời hạn vay dài trên 30 năm gắn với mức lãi suất tín dụng thấp, thời gian ân hạn tương đối dài. Thứ ba, Đi kèm một số điều kiện ràng buộc.Các nước viện trợ vốn ODA đều có những chính sách, quy định ràng buộc khác nhau với nước tiếp nhận. Các nước viện trợ vừa muốn đạt ảnh hưởng về chính trị, vừa muốn đem lại lợi nhuận cho chính mình,…Bởi vậy mà những khoản ODA bao giờ cũng có những điều kiện nhất định về kinh tế, chính trị hay khu vực địa lý.
Nghiên cứu của tác giả còn phân tích một số bất lợi khi nhận nguồn vốn ODA là: Về kinh tế, các nước nhận hỗ trợ ODA phải chấp nhận giữ bỏ hàng rào thuế quan và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hóa của nước tài trợ. Bên cạnh đó, phải thực hiện mở cửa thị trường bảo hộ cho danh mục hàng hóa mới của nước tài trợ, có những 12 ưu đãi dành cho nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào một số lĩnh vực hạn chế, sinh lời cao. Các nước nhận nguồn vốn ODA phải chấp nhận việc mua các sản phẩm từ các nước tài trợ mà không hoàn toàn phù hợp, không cần thiết đối với các nước này. Khi nhận nguồn vốn ODA, các nước được viện trợ có toàn quyền quản lý và sử dụng, tuy nhiên các danh mục dự án ODA phải có sự thỏa thuận và đồng ý của nước viện trợ.
Họ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng họ có quyền tham gia gián tiếp thông qua việc làm chủ thầu, hỗ trợ chuyên gia. Trong nền kinh tế thị trường biến động, tỷ giá hối đoái có thể gia tăng mà không lường trước được. Điều này có thể dẫn đến giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên. Bên cạnh đó, tác giả còn phân loại vốn ODA chia làm 3 loại dựa trên cách thức hoàn trả là: (i) Viện trợ không hoàn lại: Đây là hình thức vay vốn mà nước vay không phải hoàn trả lại.
Mục đích nguồn vốn này sẽ được sử dụng để thực hiện các dự án cho nước vay theo thỏa thuận của 2 nước với điều kiện đó là các nhà thầu dự án sẽ do bên cho vay đảm nhận. (ii) Viện trợ có hoàn lại: Vay vốn ODA với một lãi suất ưu đãi và một thời gian trả nợ thích hợp. Tín dụng ưu đãi chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng số vốn ODA trên thế giới. Nó không được sử dụng cho mục tiêu xã hội, môi trường.
Mà thường được sử dụng cho các dự án về cơ sở hạ tầng thuộc các lĩnh vực giao thông vận tải, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng…Làm nền tảng vững chắc cho ổn định và tăng trưởng kinh tế. (iii) Vốn ODA hỗn hợp: Là loại ODA kết hợp hai dạng trên, bao gồm một phần không hoàn lại và tín dụng ưu đãi. Như vậy, ta có thể thấy nguồn vốn ODA sẽ giúp chúng ta phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế … Đưa nền kinh tế của chúng ta phát triển. Như vậy, tác giả Hữu Đệ, Tạp chí Bussines đã phân tích rõ khái niệm, đặc trưng cơ bản và phân loại của vốn ODA.
Qua đó, tác giả nhấn mạnh những ưu điểm khi sử dụng vốn ODA là: (i) Lãi suất thấp hơn rất nhiều so với những khoản vay khác 13 và thường nằm ở mức dưới 2% hoặc 3%; (ii) Thời gian cho vay cũng như thời gian ân hạn vay dài (thường từ 25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn vay 8-10 năm); (iii) Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại, thấp nhất là 25% của tổng số vốn ODA; (iv) ODA là nguồn vốn rất quan trọng cho các nước chậm và đang phát triển để có thể ổn định đời sống xã hội và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả chưa đề cập đến vấn đề quản lý, sử dụng cũng như hiệu quả của dòng vốn ODA hiện nay.