phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị; tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục thể chất và quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trƣờng THCS - Chƣơng 2. Thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở các trƣờng trung học cơ sở của Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh - Chƣơng 3. Các biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất ở trƣờng THCS của Phòng Giáo dục- Đào tạo huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GDTC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT Ở TRƢỜNG THCS 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề Hồ Chủ tịch đã dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nƣớc nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi một ngƣời dân yếu ớt, tức là làm cho cả nƣớc yếu ớt một phần; mỗi một ngƣời dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nƣớc mạnh khỏe. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nƣớc mạnh khỏe”. Thấm nhuần lời dạy của Ngƣời, toàn dân tộc Việt Nam, trong đó có lực lƣợng sinh viên đang ra sức thi đua học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục và phát triển giáo dục trong Nhà trƣờng có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dƣỡng nhân tố con ngƣời. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa và phát huy tinh thần dân tộc của con ngƣời Việt Nam, tăng cƣờng và giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nƣớc. Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trƣớc hết phải nói đến quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tƣ tƣởng giáo dục tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Ngƣời đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của giáo dục, định hƣớng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phƣơng thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục, phƣơng pháp lãnh đạo và quản lý.
Thực tiễn đã khẳng định rằng: Hệ thống các tƣ tƣởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam. Gần đây, có nhiều công trình khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học. viết dƣới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 nghiệm đã dƣợc công bố, đó là các sách, giáo trình của: Phạm Thành Nghị, Đặng Bá Lãm, Đặng Hữu Đạo, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Chân, Nguyễn Bá Dƣơng, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Đình Am. Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết đƣợc những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý nhƣ: Khái niệm quản lý; bản chất của hoạt động quản lý; các thành phần cấu trúc, các giai đoạn của hoạt động quản lý… đồng thời chỉ ra các phƣơng pháp và nghệ thuật quản lý.
Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng chỉ dừng lại ở mức độ lý luận, sử dụng làm tài liệu giảng dạy. Có nhiều tác giả nghiên cứu về lý luận về quản lý giáo dục, các giải pháp, kinh nghiệm quản lý rút ra từ thực tiễn của giáo dục Việt Nam. Tiêu biểu là các 7 tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Mĩ Lộc. Về phạm trù GDTC trong nhà trƣờng, trong cuốn Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, y tế trƣờng học (Bộ GD&ĐT, NXB TDTT năm 2006), đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực GDTC và y tế trƣờng học.
Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài Định hƣớng chiến lƣợc tăng cƣờng GDTC, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ học sinh trong nhà trƣờng phổ thông các cấp đến năm 2010. Trong đề tài này, các tác giả đã đƣa ra mục tiêu định hƣớng lâu dài, mục tiêu trƣớc mắt 2003 - 2010 và đồng thời đƣa ra các giải pháp chiến lƣợc nhằm thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác GDTC trƣờng học các tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động GDTC đồng thời vạch ra những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phƣơng cả nƣớc do đó nó thể hiện đƣợc bức tranh tổng thể công tác GDTC.
Nhƣng hạn chế của nó là chƣa thể hiện đƣợc sự khác biệt giữa các vùng miền, địa phƣơng và các giải pháp tƣơng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Trong các đề tài tiếp theo có thể kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Công Dân với đề tài Nghiên cứu biện pháp phát triển thể chất cho học sinh các trƣờng trung học phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía bắc. Đề tài đã đánh giá đƣợc thực trạng phát triển thể chất của học sinh các trƣờng dân tộc nội trú gồm các tỉnh Lào Cai, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn và cũng đề ra các biện pháp nhằm tăng cƣờng thể chất cho đối tƣợng học sinh này. Biện pháp chủ yếu là bám sát nội dung chƣơng trình dạy học để tăng cƣờng thể lực, trang bị kỹ năng cho học sinh tốt hơn.
Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng GDTC, nghiên cứu lý luận về GDTC, đƣa ra các tiêu chí đánh giá GDTC, xây dựng một số biện pháp tác động, đánh giá kết quả các biện pháp. Đây là những công trình nghiên cứu có chiều sâu về lý luận và phần thực trạng, đƣa ra các biện pháp, thực nghiệm công phu. Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực GDTC song chủ yếu mang tính tổng quát trên phạm vi rộng hoặc các biện pháp áp dụng cho việc vận dụng phƣơng pháp, sử dụng các bài tập cụ thể. Việc nghiên cứu để đề xuất các hoạt động quản lý hoạt động GDTC cho cấp học THCS nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động GDTC là chƣa đƣợc đề cập nhiều.
Các thành quả nghiên cứu nêu trên của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc là những tri thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý GDTC trong trƣờng THCS. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Theo Harold Koolz : Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trƣờng mà trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
“Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 Theo các nhà Tâm lý học thì: “Quản lý là hoạt động đặc biệt của con ngƣời trong xã hội, một hoạt động rất phức tạp và đa dạng. Đó là sự tác động toàn diện vào một nhóm ngƣời, một tập thể ngƣời, điều khiển họ hoạt động nhằm đạt tới mục đích nhất định đã đƣợc đề ra từ trƣớc”. Quản lý đƣợc tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; quản lý gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những ngƣời khác thực hiện công việc và đạt đƣợc mục đích của nhóm.
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con ngƣời nhằm đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu đã đề ra”. Nói một cách đơn giản, dễ hiểu thì quản lý là sự tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là khách thể quản lý có liên quan) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến. Nhƣ vậy có thể khái quát lại : Quản lý một hệ thống là một khoa học , là một nghệ thuật đồng thời quản lý còn là một nghề (nghề quản lý).
Muốn điều hành các hoạt động của một tổ chức có kết quả một cách chắc chắn thì trƣớc tiên các nhà quản lý phải đƣợc đào tạo nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm) một cách chu đáo để phát hiện, nhận thức một cách chuẩn xác và đầy đủ các quy luật khách quan xuất hiện trong quá trình hoạt động. Đồng thời có phƣơng pháp, nghệ thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó. Từ những điểm chung trên ta có thể hiểu: “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.
Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục có thể xác định là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ cho đến Trƣờng), nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng nhƣ các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em.