Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hoạt động (HĐ) giáo dục thẩm mỹ (GDTM) là một trong các HĐ giáo dục quan trọng. Vì thế, trên thế giới, nhiều tác giả nghiên cứu một cách có hệ thống về lịch sử phát triển cũng như những vấn đề liên quan khác đối với GDTM.
GDTM chính là giáo dục cái đẹp cho con người. Nhà triết học cổ điển Đức E. Kant (1724 – 1804), ông đánh giá cái đẹp là mang lại những khoái cảm và thỏa mãn cho những đòi hỏi tinh thần và tính chất chủ quan của con người. Cùng thời với Kant, cũng là một nhà triết học nổi tiếng người Đức tên là Hegel (1770 – 1831).
Ông nghiên cứu về GDTM và vai trò của GDTM trong việc hình thành lối sống con người. Ông đã đưa ra quan điểm “cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên”. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của mỹ học, Hegel đã coi nghệ thuật là sản phẩm của quá trình vận động của tinh thần tuyệt đối và đến lượt mình, nghệ thuật trở thành chiếc chìa khóa mở ra các vấn đề lớn lao của con người. Ở Liên Xô trước đây, lý luận mỹ học đã trở thành vũ khí đấu tranh chính trị, nhiều nhà mỹ học đều đứng trên lập trường duy vật để giải quyết các vấn đề thẩm mỹ, tiêu biểu như: Bielinxki, Tsécnưsépxki, M.
Bielinxki (1811- 1848) đã đứng trên lập trường duy vật để giải thích các vấn đề của nghệ thuật nên với ông nghệ thuật là “sự tái hiện của cuộc sống”. Từ đó ông đồng tình với quan điểm của các nhà nghệ thuật theo khuynh hướng hiện thực, đề cao tính tư tưởng và tính nhân dân sâu sắc. Đến Tsécnưsépxki (1828 – 1889), ông khẳng định dứt khoát “cái đẹp là cuộc sống”. Quan điểm này được ông bảo vệ và làm rõ trong nhiều sáng tác sau đó.
Ông cho rằng “Nghệ thuật là cuốn sách giáo khoa của cuộc sống” và lý luận, nghệ thuật phản ánh thực tại nên cái đẹp trong thực tại bao giờ cũng cao hơn cái đẹp trong nghệ 6 thuật. Ông còn yêu cầu nghệ thuật chân chính cần vạch rõ cái ác, cái chuyên quyền bạo lực, đồng thời dẫn đường cho nhân dân con đường đi tới cuộc sống tốt đẹp hơn. Tiếp theo các bậc tiền bối, trong cuốn “Mỹ học cơ bản và nâng cao” của M.Ốpxiannhicốp đã luận giải khá đầy đủ các nội hàm của đời sống thẩm mỹ. Các vấn đề mỹ học cơ bản đều được ông trình bày cụ thể, khoa học.
Theo các ông, quan điểm thẩm mỹ là những nghiên cứu xoay quanh việc giải quyết những vấn đề liên quan tới cái đẹp và nghệ thuật. Dù chưa có một khái niệm riêng cho quan điểm thẩm mỹ, nhưng nhìn chung quan điểm thẩm mỹ đã được nhà mỹ học này tiếp cận như một nội dung quan trọng của khoa học mỹ học. Trong tác phẩm “Nghệ thuật và đời sống xã hội” của Plêkhanốp đã chỉ rõ sự phụ thuộc khăng khít giữa tính chất của sự cảm thụ thẩm mỹ của con người với tính chất của các điều kiện sinh hoạt, điều kiện sống của một xã hội nhất định. Ông đưa ra quan điểm: “Bản tính con người khiến họ có thể có những cảm giác và quan niệm thẩm mỹ.
Những điều kiện sinh hoạt của họ cải biến những tiềm thế ấy thành hiện thực, chính là tùy theo các điều kiện ấy mà một con người xã hội nhất định (hoặc nói cho đúng hơn, một xã hội nào đó, một dân tộc nào đó, một giai cấp nào đó) có chính là những thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ này, chứ không phải là những thị hiếu và quan niệm thẩm mỹ khác” (Plêkhnanốp, 1963, p. Trong các tư tưởng về mỹ học của Mác và Ăngghen đã đề cập sâu sắc đến vai trò của nghệ thuật đối với cuộc đấu tranh của nhân loại vì cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Mác - Ăngghen đã đưa ra những quan điểm cơ bản nhất về văn hóa thẩm mỹ trong xã hội tương lai. Các ông đặc biệt nêu lên vai trò của các quan điểm thẩm mỹ trong việc hình thành con người mới, thế giới quan mới và cá tính con người.
Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, quan điểm thẩm mỹ cũng được các nhà nghiên cứu mỹ học, văn học và nghệ thuật học đặc biệt quan tâm. Đầu tiên phải kể đến các công trình mỹ học của tác giả Đỗ Huy. Ngoài việc chủ biên và đồng chủ biên một số công trình, tác giả Đỗ Huy đã có nhiều ấn phẩm mỹ học có giá trị. Đó là: Mỹ học với tư cách là một 7 khoa học, Nhà xuất bản (NXB) Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; Mỹ học khoa học về các quan hệ thẩm mỹ, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2001; Đạo đức học, mỹ học và đời sống văn học nghệ thuật, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, v.
Tiêu biểu trong đó có các công trình viết chung của tác giả Đỗ Huy và Đỗ Văn Khang như cuốn sách “Mỹ học Mác - Lênin”, “Giáo trình Mỹ học cơ sở”; “Giáo trình Đại cương về những khuynh hướng cơ bản trong lịch sử mỹ học” của hai tác giả Đỗ Huy và Vũ Trọng Dung đồng chủ biên và các tác phẩm khác như “Giáo trình mỹ học đại cương” của tác giả Nguyễn Văn Huyên chủ biên; cuốn sách “Mỹ học đại cương” của Lê Ngọc Trà, Lâm Vinh, Huỳnh Như Phương. Trên cơ sở nghiên cứu các khuynh hướng mỹ học, các công trình này nhìn chung đã đề cập một cách đầy đủ về quan điểm thẩm mỹ của các nhà mỹ học, các trường phái trong lịch sử nghiên cứu mỹ học từ quan điểm thẩm mỹ duy vật chất phác, quan điểm thẩm mỹ duy tâm khách quan, duy tâm chủ quan, tới quan điểm thẩm mỹ biện chứng của C. Có thể coi đây là cơ sở lý luận cơ bản cho tác giả tham khảo để hoàn thành luận văn của mình, nhưng để đưa ra một khái niệm về quan điểm thẩm mỹ thì chưa có một nhà nghiên cứu nào đề cập tới một cách rõ ràng. Ngoài các công trình nêu trên, một số nghiên cứu của các tác giả khác có đề cập đến quan điểm thẩm mỹ trong mối quan hệ với các yếu tố liên quan trong khoa học mỹ học như: ý kiến của tác giả Đào Duy Thanh cho rằng “cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực, có cơ sở khách quan trong đời sống, nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm mỹ tích cực có tính hoàn thiện, hoàn mỹ.
Cái đẹp được hình thành khi con người biết đối chiếu, soi sánh với cái xấu. Từ những sự quan sát bình thường chỉ ra cái gì đẹp, cái gì xấu, đến chỗ có thể định nghĩa về cái đẹp quả là một quá trình lâu dài, khó khăn trong lịch sử mỹ học” (Đào Duy Thanh, 2009). Một số nghiên cứu như: Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995 của tác giả Trần Túy; Vai trò của văn học trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, học viện Chính trị quốc gia Hồ 8 Chí Minh, 1996 của tác giả Lê Quang Vinh; Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001 của tác giả Trần Ngọc Tăng… đã tập trung đề cao vai trò của các yếu tố liên quan đến việc hình thành và hoàn thiện môi trường giáo dục thẩm mỹ. Các nghiên cứu kể trên đều khẳng định rằng GDTM là một nội dung trọng tâm trong sự nghiệp giáo dục nói chung ở nước ta hiện nay, và thành quả các HĐ GDTM có mối quan hệ mật thiết với các yếu tố vệ tinh như nghệ thuật, văn học, truyền thông đại chúng…Các tác giả đã đưa ra những đóng góp nhất định và đi sâu nghiên cứu nội dung lý luận của GDTM và quan hệ biện chứng giữa GDTM với các hình thức biểu hiện của đời sống thẩm mỹ.
Tiêu biểu có công trình nghiên cứu của GS Đỗ Xuân Hà (1990) và các cộng sự. Các tác giả đã đi sâu làm rõ vai trò của GDTM, mục đích, nhiệm vụ và phương hướng chính của GDTM cho học sinh (HS) phổ thông ở Việt Nam, làm rõ các phạm trù, khái niệm cơ bản của GDTM như: đối tượng của GDTM, lí tưởng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ, GDTM. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận khoa học và thực tiễn giáo dục, các tác giả đã phát biểu quan điểm toàn diện về GDTM trong nhà trường hiện nay (bản chất của GDTM, phương hướng tổ chức các HĐ GDTM…), đồng thời đã vạch ra những hạn chế trong quan niệm GDTM trước đây (quan niệm GDTM chỉ là giáo dục cái đẹp, là giảng dạy nghệ thuật…) (Đỗ Xuân Hà, 1990, 1992, 1993). Một tác phẩm khác liên quan đến vấn đề GDTM là “Giáo dục thẩm mỹ trong gia đình” của tác giả Đỗ Văn Thản.
Cuốn sách này đã giới thiệu ý kiến của các nhà giáo dục Liên Xô như N. Xukhơlinski và nhiều nhà giáo dục khác về tác dụng của GDTM, đồng thời hướng dẫn cho các em cách học nhạc, học văn thơ, xem phim, xem kịch. theo từng môn và từng lứa tuổi. Cuốn sách đưa ra một thông điệp hết sức quan trọng về nhiệm vụ của chúng ta - các bậc cha mẹ và các nhà giáo dục - là không nên bỏ rơi, không nên bỏ mặc các em ngay từ tuổi ấu thơ, đồng thời cũng không được bỏ qua những cái mới, những cái sinh động mà chúng ta đã biết, để truyền lại cho các em những kinh nghiệm sống, sự say mê đối với nghệ 9 thuật, sự tôn trọng đối với tất cả mọi cái gọi là tài năng và sáng tạo.
GDTM là cơ sở vững chắc giúp phát triển nhân cách ở trẻ em (Đỗ Văn Thản, 1975). Bên cạnh đó “Giáo dục cái đẹp trong gia đình” của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đã nêu những nét đặc trưng trong sự phát triển tâm lí của trẻ và gợi ý về nội dung giáo dục cái đẹp trong gia đình. Những hiểu biết bước đầu nền GDTM trong gia đình qua từng lứa tuổi từ lúc lọt lòng cho tới khi bước vào tuổi thành niên (Nguyễn Ánh Tuyết, 1984). Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Hoạt động giáo dục thẩm mỹ cho học sinh tiểu học 1. Thẩm mỹ Thẩm mỹ theo tiếng Hán: “thẩm”: xem xét, “mỹ”: đẹp. Do đó Thẩm mỹ là hiểu biết và thưởng thức cái đẹp (Hoàng Phê, 1994).