Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lí công tác GDQP – AN cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục Đại học Chương 2: Thực trạng quản lí công tác GDQP - AN cho sinh viên hệ chính quy tại Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN Chương 3: Một số biện pháp quản lí công tác GDQP - AN cho sinh viên hệ chính quy tại Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQGHN 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ CÔNG TÁC GDQP - AN CHO SINH VIÊN TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Quản lí và các chức năng của quản lí 1. Quản lí Thuật ngữ quản lí được định nghĩa là “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Ở khía cạnh khác “Quản lí là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [13, tr.Mác: “Quản lí là lao động điều khiển lao động”.Mác – Ăngghen Toàn tập, tập 25, phần 2, tr.
Ông khẳng định “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân… Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.Taylor (1856 - 1915) cho rằng "Quản lí là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất". Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình “hoạt động quản lí”. Ông là người đầu tiên phân biệt chúng thành 5 chức năng cơ bản “kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Faylo đã nhấn mạnh đến ý nghĩa của cấu trúc (bộ máy) tổ chức, ông đã khẳng định rằng, khi con người lao động hiệp tác thì quan trọng là họ phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành.Koontz thì lại khẳng định “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lí là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Follet (1868 - 1933) cho rằng trong công việc quản lí cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm. Theo Bà "Quản lí là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác".Bamard (1886 - 1961) quan tâm đến đối tượng quản lí là các cá nhân con người đơn nhất và coi tổ chức như một hệ thống mở, ông nhấn mạnh đến mối liên hệ hữu cơ giữa các bộ phận với hệ thống, giữa hệ thống với môi trường đặc thù của tổ chức. Ông cho rằng: "Quản lí không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức.
Tác giả Trần Kiểm lại cho rằng: "Quản lí là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định". Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có nhiều quan niệm khác nhau về quản lí. Song điểm chung của các quan niệm này là đều khẳng định chủ thể, đối tượng quản lí, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lí. Từ các quan niệm của các học giả trên, có thể khái quát: Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất.
Đây là nền tảng tư tưởng để định hướng hoạt động cho các nhà quản lí, đảm bảo đem lại hiệu cao nhất trong công tác quản lí. Trong thực tế, quản lí là một hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp, có ảnh hưởng to lớn đến sự tồn tại và phát triển của một tổ chức. Vì vậy, đòi hỏi các nhà quản lí phải biết vận dụng một cách sáng tạo và linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan, đơn vị mình. Quản lí vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lí giáo dục Quản lí giáo dục đã được các nhà lí luận và quản lí thực tiễn hoạt động giáo dục đưa ra một số định nghĩa như sau: Theo Nguyễn Quốc Chí: "Quản lí giáo dục là được hiểu như việc thực hành đầy đủ các chức năng kế hoạch hoá, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên cả những phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa". Tác giả Đặng Quốc Bảo định nghĩa: " Quản lí giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội". Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại cho rằng “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường và xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
Ở các cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đã cũng đã có những cách diễn đạt khác nhau về quản lí giáo dục, song các tác giả cũng đều thống nhất đề cập đến chủ thể, khách thể của quản lí giáo dục, mục tiêu, cách thức và công cụ quản lí giáo dục. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà quản lí nâng cao được hiệu quả quản lí của mình tại các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Các chức năng của quản lí Quản lí là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Với tư cách là yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong việc duy trì và phát triển của một tổ chức, hoạt động quản lí được thực hiện trên cơ sở bốn 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức năng, đó là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Có thể khái quát các chức năng quản lí theo sơ đồ sau (sơ đồ 1.1): Môi trƣờng bên ngoài Mục tiêu của tổ chức Dự báo/lập kế hoạch Tổ chức Nhà quản lí Công việc – Nhân sự Kiểm tra/đánh giá Chỉ đạo/lãnh đạo Các nguồn lực của tổ chức Sơ đổ 1. Các chức năng của quản lí (Nguồn: Trần Khánh Đức. Nxb Giáo dục, 2010) Từ sơ đồ trên ta thấy, quá trình quản lí diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lí với sự tham gia của các thành viên trong tổ chức như dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, lãnh đạo, kiểm tra, đánh giá. Các hoạt động trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để hoàn thiện quá trình quản lí.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lập kế hoạch (planning): là chức năng cơ bản của quản lí, công tác kế hoạch luôn phải đi trước một bước so với quá trình tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Kế hoạch càng chặt chẽ, khoa học và sát với thình hình thực tiễn thì quá trình tổ chức thực hiện càng thuận lợi và hiệu quả bấy nhiêu. Vì vậy, đòi hỏi người lãnh đạo của tổ chức phải xác định các chiến lược đường lối một cách có ý thức và đưa ra các quyết định dựa trên sự hiểu biết và những đánh giá thận trọng. Lập kế hoạch là một phương pháp tiếp cận hợp lí để đạt tới các mục tiêu định trước.
Bởi lẽ, phương pháp tiếp cận này không tách rời khỏi môi trường, nên việc lập kế hoạch phải xét tới bản chất của môi trường mà các yếu tố quyết định và hành động của việc lập kế hoạch được dự kiến để hoạt động trong đó. Kế hoạch phải xác định được các vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của cả quá trình. Trong mỗi kế hoạch thường bao gồm các nội dung như xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và bảo đảm (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu, và cuối cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đã đề ra. - Tổ chức (Organizing): là quá trình chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng trong kế hoạch thành hiện thực.
Xét về mặt chức năng quản lí, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Cơ cấu tổ chức quản lí là hình thức phân công nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lí, có tác động đến quá trình hoạt động của hệ thống quản lí. Cơ cấu tổ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức quản lí, một mặt phản ánh cơ cấu trách nhiệm của mỗi thành viên trong hệ thống, mặt khác có tác động tích cực trở lại đến việc phát triển của hệ thống nếu tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tổ chức quản lí. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lí trong việc khai thác sử dụng và phát huy tối đa các nguồn lực này.
- Chỉ đạo (Leading): có nguồn gốc từ hai thuật ngữ lãnh đạo và điều hành. Chỉ đạo vừa có ý nghĩa chỉ thị để điều hành, vừa là tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của các thành viên trong tổ chức trên cơ sở sử dụng đúng các quyền lực của người quản lí. Chỉ đạo là quá trình tác động, gây ảnh hưởng đến thành viên trong tổ chức để công việc của họ làm hướng tới các mục tiêu chung đề ra.