Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho học sinh Hiện nay đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu có tính chất tổng quan về GDPL cho HS và các hình thức, phương pháp vận dụng GDPL cho HS trong lý thuyết và thực tiễn, cụ thể như sau: Trần Ngọc Đường- Dương Thanh Mai (1995), “Bàn về GDPL” của NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội [9]. Các tác giả đã đề cập và giải quyết hầu hết các vấn đề cơ bản về lý luận của GDPL như: Bản chất GDPL, quan hệ giữa GDPL với giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức, làm rõ mục đích và vai trò của GDPL, chủ thể, khách thể, đối tượng, nội dung, hình thức, phương tiện, phương pháp, hiệu quả của GDPL.
Luận án tiến sĩ giáo dục học của Nguyễn Khắc Hùng, nghiên cứu “Các biện pháp tổ chức GDPL cho HS trung học cơ sở (Tại thành phố Hồ Chí Minh) năm 2021 [17]. Luận án đã làm rõ hơn các khái niện GDPL, các biện pháp GDPL trong nhà trường phổ thông, đánh giá thực trạng GDPL tại thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra thực nghiệm các biện pháp GDPL. Lê Quý Đình (2020), “Giáo dục pháp luật cho HS trong trường THCS huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”, Luận văn thạc sĩ Đại học Sư phạm Hà Nội [10]. Tác giả đã dựa trên cơ sở lý luận Mác- Lênin đưa ra những quan điểm về GDPL, lý giải minh chứng sự cấp thiết của giáo dục và đưa ra những giải pháp cấp thiết góp phần nâng cao chất lượng GDPL cho HS trong trường THCS huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Chuyên đề “Phổ biến, GDPL cho HS, sinh viên trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” đặc san tuyên truyền pháp luật số 03/ 2021 của Hội đồng phổ biến, GDPL [16]. Chuyên đề này nêu ra một số nội dung về cơ sở lý luận và thực trạng về giáo dục, phổ biến pháp luật trong nhà trường, vai trò và vị trí của công tác này đối với việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống cho HS, sinh viên. Đồng thời, chuyên đề đã đưa ra những đề xuất để nâng cao chất lượng công tác phổ biến pháp luật trong thời gian tới. Nghiên cứu “Một số vấn đề về nội dung và phương pháp GDPL cho HS các trường THCS” của Hoàng Văn Huệ, NXB Giáo dục, Hà Nội [19].
Đã nêu những vấn đề cơ bản còn tồn tại trong GDPL THCS và nội dung, phương pháp GDPL các trường THCS. Tuy nhiên, chỉ dừng ở tổng quan nghiên cứu mà không đi sâu vào phân tích và có phương pháp luận giải để hoàn thiện vấn đề đặt ra. Như vậy, GDPL cho HS là một trong những nội dung quan trọng trong giáo dục trong nhà trường phổ thông tại Việt Nam. Nó được coi là một trong các yếu tố nền tảng trong hình thành nhân cách con người.
Với xu hướng giáo dục hiện đại, giáo dục không chỉ trang bị cho HS, nhất là HS bậc THCS những tri thức nền tảng mà còn là đạo đức, kỹ năng sống thì các vấn đề giáo dục toàn diện cho HS ngày càng được quan tâm. Các hoạt động giáo dục như giáo dục kỹ năng sống, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục thẩm mỹ, GDPL cho HS… trở thành những nội dung được nhiều nhà khoa học giáo dục chú trọng. Nghiên cứu về GDPL cho HS đã có một số công trình nổi bật có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn, là nguồn tư liệu quý giá cho tác giả triển khai đề tài của mình. Nghiên cứu về quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh các trường THCS Hiện nay đã có nhiều công trình được các chuyên gia và ít nhiều đã đề cập đến việc quản lý GDPL cho HS các trường THCS sao cho có hiệu quả nhất.
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu và có giá trị như: Lê Danh (2018) “Quản lý GDPL cho HS các trường THCS thông qua hoạt động ngoại khóa”, Tạp chí Giáo dục, số 12 [7]. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu lý luận quản lý dạy học nói chung, ở phương diện quản lý GDPL cho HS các trường THCS, hướng tới vai trò hoạt động ngoại khóa giúp hình thành kiến thức pháp luật, phát triển đạo đức và ứng xử xã hội cho HS theo mục tiêu đổi mớicủa nền giáo dục đất nước hiện nay. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn tập trung vào lý thuyết quản lý dạy học chưa đi sâu cụ thể vào giải pháp làm thế nào để quản lý GDPL cho HS các trường THCS thông qua hoạt động ngoại khóa hiệu quả trong tình hình đổi mới giáo dục hiện nay. Luận văn đã nghiên cứu một số lý luận vấn đề GDPL và quản lý giáo dục.
Đồng thời, đề ra các biện pháp quản lý GDPL theo hướng tiếp cận chức năng quản lý. Luận án tiến sĩ khoa học Học viện Quản lý Giáo dục của Vũ Thị Thu Thủy (2020) nghiên cứu “Quản lý GDPL cho HS các trường trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay” [38]. Nghiên cứu góp phần hoàn thiện và làm phong phú lý luận về quản lý GDPL cho HS các trường THCS; phát hiện thực trạng và các mặt hạn chế, bất cập và nguyên nhân của quản lý GDPL cho HS các trường THCS trên địa bàn toàn quốc Việt Nam; đề xuất và khẳng định hiệu quả của các biện pháp quản lý GDPL cho HS các trường THCS. Luận án đề xuất 06 biện pháp quản lý GDPL cho HS trường THCS theo hướng tiếp cận chức năng quản lý.
Luận văn Thạc sĩ, “Quản lý GDPL cho HS các trường THCS tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình” của Nguyễn Hoàng Long, Trường đại học Sư phạm, Đại học Huế năm 2020 [24]. Luận văn đã nghiên cứu sâu về phương pháp quản lý GDPL cho HS các trường THCS, đóng góp khoa học về hệ thống quản lý, phương pháp quản lý và áp dụng thực tiễn trong quản lý GDPL cho HS các trường THCS tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nói riêng và nước ta trong giai đoạn đổi mới giáo dục nói chung. Các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ và phong phú về mặt lý luận hoạt động GDPL và quản lý giáo dục cho HS các trường THCS. Các biện pháp quản lý được đề xuất phù hợp thực tiễn địa bàn nghiên cứu.
Liên quan đến quản lý GDPL cho HS các trường THCS huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và đặt biệt thông qua dạy học môn GDCD thì hiện nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu. Vì vậy, trong luận văn của mình, tác giả kế thừa những thành tựu nghiên cứu về lý luận của các công trình nghiên cứu trước, đồng thời đưa ra các biện pháp quản lý GDPL cho HS các trường THCS thông qua dạy học môn GDCD phù hợp thực tiễn trên địa bàn huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Hệ thống các khái niệm 1. Quản lý Quản lý là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và từ trước tới nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm quản lý.
Theo Phạm Hùng (2012): “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động” [18]. Trần Kiểm đưa ra định nghĩa: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) phát huy một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [23]. Từ những quan điểm trên, tác giả rút ra khái niệm: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp quy luật của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng các kỹ thuật, các phương pháp và phương tiện quản lý nhằm sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra trong môi trường không ngừng biến động. Khái niệm quản lý giáo dục Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục, tuy chưa hoàn toàn thống nhất với nhau, song đã có nhiều ý kiến đồng nhất.” Theo Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thành Vinh (2011) cho rằng: “QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý mà người đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường đến các đối tượng quản lý (tập thể GV, công nhân viên, tập thể HS và các bên liên quan) và huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện có hiệu quả sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục, với cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định” [2, tr.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang (2012) đưa ra quan điểm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lí giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình bồi dưỡng-giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trang thái mới về chất”[30, tr. “Như vậy, QLGD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng nhìn chung lại đều có nội dung cơ bản là sự tác động của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục mà xã hội yêu cầu hay là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch phù hợp với quy luật để vận hành một hệ thống hoạt động theo đúng yêu cầu đặt ra cho giáo dục”. Giáo dục pháp luật cho HS Qua thực tiễn nghiên cứu, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về GDPL. Có những quan điểm chưa đầy đủ cho rằng GDPL là dạy và học luật; hoặc GDPL là giáo dục chính trị.
Những quan điểm này đã hạn chế, giới hạn phạm vi của GDPL và chưa thể hiện được mục đích của GDPL.