CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG TỰ PHỤC VỤ CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Kỹ năng sống được đề cập trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc), WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hiệp Quốc) cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức xã hội trong và ngoài nước.ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các kỹ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kỹ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kỹ năng đó. Nghiên cứu kỹ năng ở mức độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có tác giả V.Crutexki có công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào vấn đề hình thành tri thức và kỹ năng theo lý thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai đoạn (V.Kruteski, 1990) Một số nhà tâm lý học coi khả năng tự lập, tự phục vụ cho bản thân là một trong những nét đặc trưng của nhân cách, đại diện là T.Dmitriev…cho rằng: “Khả năng tự lập phải hình thành trên cơ sở người học đã có một số kiến thức, hiểu biết một số kỹ năng nhất định và biết vận dụng chúng vào những tình huống khác nhau trong thực tế, đó phải là những tình huống mới mẻ mà các em phải đối mặt trong cuộc sống.
Khả năng tự lập của các em được bộc lộ rõ qua các hành vi và ta có thể dễ dàng quan sát thấy được trong khi các em đang thực hiện các mối quan hệ giữa người – người, hay giữa con người với thế giới xung quanh” Giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho học sinh tiểu học là một trong những vấn đề đã được các nhà tâm lý, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Mặc dù có khác nhau về các biện pháp, phương pháp khác nhau từ các góc độ nghiên cứu song họ đều cho rằng chính hai mặt năng lực và phẩm chất là hai mặt then chốt mà giáo dục cần tác động đến nhằm tạo ra những con người toàn diện. 12 Rất nhiều tác giả nước ngoài đã đề cập đến vấn đề giáo dục KN TPV cho các em trong cuộc sống, khả năng tự lập là một phẩm chất nhân cách vô cùng quan trọng. Nhờ vào khả năng tự lập mà các em có khả năng tự hoạt động, tự cố gắng tham gia và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực của bản thân các em.Côvaliôp trong công trình nghiên cứu của mình đã chú trọng đến việc giáo dục lao động tự phục vụ cho HS.
Tác giả cho rằng thói quen là bản tính thứ hai của con người. Khi có thói quen lao động, nếu không làm việc người ta không chịu được,. Như vậy theo A.Côvaliôp một khi đã có thói quen lao động thì con người sẽ chủ động thực hiện công việc, nếu như không thực hiện thường xuyên thì học sẽ cảm thấy khó chịu, buồn bực. Vì vậy, đối với HS TH một khi có kỹ năng tự phục vụ đã hình thành thì cần thực hiện một cách thường xuyên, liên tục để chúng trở thành nhu cầu của các em, nếu không các em sẽ cảm thấy khó chịu.
Tác giả cũng nhấn mạnh rằng việc các em chủ động thực hiện các công việc tự phục vụ sẽ mang lại cho chúng niềm vui, niềm tự hào đó là động lực thôi thúc các em thực hiện lao động tự phục vụ. Vì vậy tác giả cho rằng giáo viên cần tạo được niềm vui, điều đó mang lại hiệu quả cao trong việc giáo dục lao động tự phục vụ cho các em (A.Peecnicova trong nhiều tác phẩm của mình đã đề cập đến việc giáo dục lao động tự phục vụ đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức của trẻ em. Theo ông phẩm chất đạo đức hình thành ở trẻ em trước hết là trong quá trình lao động. Phẩm chất ấy thể hiện ở sự ham thích và thói quen lao động phục vụ bản thân, gia đình, nhà trường ,.
Như vậy sự thích thú và thói quen, kỹ năng lao động tự phục vụ bản thân chính là một biểu hiện của phẩm chất đạo đức của các em. Ông cho rằng nên cho các em làm việc dễ dàng nhưng có ích từ khi các em còn nhỏ. Việc thực hiện các kỹ năng tự phục vụ như tự rửa tay, rửa mặt, đánh răng, chải tóc, xếp đồ, xếp sách vở. là những công việc dễ dàng vừa sức trẻ mà vô cùng có ích đối với sức khỏe và vẻ đẹp con người.Traboxkaia, 2002) Dựa trên quan điểm kiên quyết yêu cầu phải để các em tự phục vụ từ khi còn nhỏ, nếu không các em sẽ phát triển thói ăn bám xấu xa của Crupxkaia, tác giả cho rằng Con cái chúng ta phải hưởng tuổi thơ hạnh phúc, nhưng tuyệt nhiên 13 không có nghĩa là tuổi thơ ấy phải nhàn rỗi.
Các em sẽ không thấy hạnh phúc khi bố mẹ cứ phục vụ các em mãi như cậu ấm cô chiêu (A. Đồng thời tác giả đưa ra nguyên tắc vô cùng đơn giản và quan trọng để rèn cho trẻ thói quen vệ sinh sạch sẽ đó là không làm thay con cái những việc mà các em có thể tự làm được, ngay cả với những em bé nhất, tùy theo khả năng, trẻ em phải tự ăn uống, rửa mặt, đánh răng, soạn sách vở, vệ sinh cá nhân,.Usinxki người sáng lập khoa học giáo dục Nga, trong công trình nghiên cứu của mình ông đã chỉ ra rằng sự phát triển của trẻ em là kết quả lao động của bản thân các em qua hoạt động nhận thức và trí tuệ (K. Để các em yêu thích lao động, thì cần phải giúp các em tiếp cận với lao động, mức độ thể hiện kỹ năng tự phục vụ ở các em phụ thuộc vào việc tham gia vào hoạt động lao động trong môi trường xung quanh.Macarenco nhà giáo dục lớn người Nga, rất quan tâm tới việc giáo dục trẻ em thông qua lao động, giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho các em, nguyên tắc lý tưởng là phải làm thế nào cho bản thân lao động có tính hấp dẫn học sinh và kích thích họ cố gắng, đạt được những kết quả tốt đẹp. Theo hai tác giả trong lĩnh vực lao động không dùng khen thưởng và trách phạt, tác giả cho rằng: “Nhiệm vụ lao động và sự hoàn thành nhiệm vụ đó đã khiến cho nhi đồng vui sướng thoải mái rồi.
Khi thừa nhận công tác của các em là tốt thì đó phải là cái phần thưởng rất quý đối với lao động của các em. Đối với trẻ em cần phải giáo dục các em thói quen sinh hoạt, thói quen văn hóa, ý thức tự lập, khả năng tự kiềm chế, tinh thần vượt khó ý thức trách nhiệm đối với bản thân và mọi người. Tác giả quan tâm trước tiên tới giáo dục và phát triển kỹ năng tự phục vụ ở các em thông qua trò chơi, chính trò chơi phát triển rất nhiều kỹ năng ở các em (A.Macarenco, 2018) Khả năng tự phục vụ cho bản thân là một trong những khía cạnh giúp hình thành nhân cách ở học sinh. Việc giáo dục kỹ năng tự phục vụ sẽ giúp cho học sinh có khả năng tự lập, tự hoạt động, cố gắng và hoàn thành công việc trên cơ sở năng lực bản thân từ đó hình thành nên phẩm chất đạo đức của học sinh.
Nên để 14 học sinh tự làm những việc mà các em có khả năng hoàn thành (A.Traboxkaia, 2002) Để hình thành kỹ năng tự phục vụ cho học sinh thì việc rèn luyện cần phải được tiến hành thường xuyên trong thời gian liên tục thông qua các biện pháp như làm mẫu, giải thích bằng lời, nêu gương, tập luyện hàng ngày, sử dụng các trò chơi. Hiện nay xu hướng giáo dục TH trên thế giới đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản rất quan tâm đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ cho HS. Họ cho rằng thiếu kỹ năng tự phục vụ sẽ dẫn đến hệ lụy trẻ lười biếng, thụ động và khó khăn khi tham gia vào các hoạt động tập thể, các nhà giáo dục cho rằng cần giáo dục các em kỹ năng tự phục vụ ngay từ khi các em còn rất nhỏ chứ không phải đợi đến lứa tuổi tiểu học, việc nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ giúp các em tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, không chỉ có lợi cho sự phát triển của các em mà hữu ích cho cả người lớn. Các nghiên cứu trong nước Khái niệm “Kỹ năng sống” thực sự được hiểu một cách đúng đắn và chặt chẽ, sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF tổ chức năm 2003 tại Hà Nội.
Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống. (Huỳnh Văn Sơn, 2017) Tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động và rất đầy đủ, hệ thống tiếp cận thực hiện GD kỹ năng sống cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện. GD đã triển khai chương trình GD kỹ năng sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục kỹ năng sống.
Theo đó, các nội dung GD kỹ năng sống được triển khai tại bậc tiểu học về chương trình cải cách của GD tiểu học (2000) đã quan tâm đến viêc GD những hành vi, KN tự phục vụ, KN giao tiếp ứng xử cho học sinh (Nguyễn Thanh Bình và cs, 2009) Năm 2009, tác giả Huỳnh Văn Sơn xuất bản ấn phẩm “Nhập môn kỹ năng sống” với các nội dung cơn bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số kỹ năng sống cơ bản, các kỹ năng tự phục vụ cần thiết,…Bên cạnh đó tác giả 15 cũng đưa ra giá trị của việc hình thành các kỹ năng này đối với đời sống của mỗi cá nhân để từ đó mọi người có ý thức rèn luyện để hình thành nên kỹ năng đó trong chính cuộc sống của mình. Cũng theo tác giả này “ Kỹ năng sống là những kỹ năng tinh thần hay những kỹ năng tâm lý, kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Những kỹ năng này giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để thích nghi và phát triển.