Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học phổ thông Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT trên địa bàn thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF, trước tiên là chương trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất được một quan niệm chung về KNS cũng như đưa ra được một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về KNS ở giai đoạn này quan niệm về KNS theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về KNS nêu trên. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập cùng phát triển của các quốc gia nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội. để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội.
Theo đó vấn đề giáo dục KNS cho thế hệ trẻ nói chung, cho học sinh phổ thông nói riêng được đông đảo các nước quan tâm. Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000) yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục KNS phù hợp. Trong giáo dục hiện đại, KNS của người học là một tiêu chí về chất lượng giáo dục. Do đó, khi đánh giá chất lượng giáo dục phải tính đến những tiêu chí đánh giá KNS của người học.
Mặc dù, giáo dục KNS cho học sinh đã được nhiều nước quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về KNS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Health Organization) hoặc của UNESCO, những quan niệm và nội dung giáo dục KNS ở các nước không giống nhau. Ở một số nước, nội hàm của khái niệm KNS 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được mở rộng, trong khi một số nước khác xác định nội hàm của khái niệm KNS chỉ gồm những khả năng tâm lý, xã hội. Quan niệm, nội dung giáo dục KNS được triển khai ở các nước vừa thể hiện cái chung vừa mang tính đặc thù (những nét riêng) của từng quốc gia. Mặt khác, ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục KNS trong lĩnh vực giáo dục chính quy cũng có sự khác nhau.
Trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kỹ năng cơ bản như: đọc, viết, nghe, nói được coi là những KNS cơ sở, trong khi giáo dục chính quy, các KNS cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc. Cho đến nay, chưa có quốc gia nào đưa ra được kinh nghiệm hoặc hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng KNS. Theo tổng thuật của UNESCO, có thể khái quát những nét chính trong các nghiên cứu này như sau: - Nghiên cứu xác định mục tiêu của giáo dục KNS, Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội thảo về giáo dục KNS cho thanh thiếu niên đã xác định mục tiêu của giáo dục KNS trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hằng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Nghiên cứu xác định chương trình và hình thức giáo dục KNS, đây là nội dung được nhiều công trình nghiên cứu quan tâm. Các nghiên cứu này cho thấy chương trình, tài liệu giáo dục KNS được thiết kế cho giáo dục không chính quy là phổ biến và rất đa dạng về hình thức. Cụ thể: + Lồng ghép vào chương trình dạy chữ (chương trình các môn học) ở các mức độ khác nhau. Ví dụ: Có nước lồng ghép KNS vào các chương trình dạy chữ cơ bản nhằm xóa mù chữ.
Bên cạnh dạy chữ có kết hợp dạy kỹ năng làm nông nghiệp, kỹ năng bảo tồn môi trường, sức khỏe, kỹ năng phòng chống HIV/AIDS. + Dạy các chuyên đề cần thiết cho người học. Ví dụ như: tạo thu nhập; môi trường, kỹ năng nghề, kỹ năng kinh doanh. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nghiên cứu ở trong nước Thuật ngữ KNS được người Việt Nam bắt đầu biết đến từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thông qua quá trình thực hiện chương trình này, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng. Giai đoạn đầu tiên, khái niệm KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu. Ở giai đoạn này, chương trình chỉ tập trung vào các chủ đề giáo dục sức khỏe của thanh thiếu niên.
Giai đoạn 2 của chương trình mang tên “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống”. Trong giai đoạn đầu tiên khái niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những KNS cốt lõi như: Kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định, kỹ năng đạt mục tiêu. Cùng với việc triển khai chương trình nêu trên, vấn đề giáo dục KNS cho học sinh đã được quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về các vấn đề trên ở giai đoạn này có xu hướng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia và đề xuất các biện pháp để hình thành những kỹ năng này cho thanh thiếu niên (trong đó có học sinh THPT).
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là: “Cẩm nang tổng hợp kỹ năng hoạt động thanh thiếu niên” của tác giả Phạm Văn Nhân (2002); “Kỹ năng thanh niên tình nguyện” của tác giả Trần Thời (1998). Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình, với một loạt các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam. KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam đã được nghiên cứu theo các hướng và nội dung chính sau: - Xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về KNS và giáo dục KNS. Theo hướng nghiên một số cơ sở tâm lý của việc giáo dục KNS cho học sinh và những nghiên cứu của một số tác giả khác.
Một số nghiên cứu khác không trực tiếp đề cập đến vấn đề 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com KNS, giáo dục KNS như đối tượng nghiên cứu của mình, song, những kết quả nghiên cứu của các công trình này có giá trị quan trọng trong việc thiết lập quan điểm phương pháp luận cũng như những định hướng và tiếp cận trong việc nghiên cứu KNS, giáo dục KNS cho thế hệ trẻ. Đó là nghiên cứu của các tác giả cứu này còn có một số công trình nghiên cứu khác như: cho tuổi vị thành niên; Đặng Quốc Bảo; Dương Tự Đam; Phạm Minh Hạc; Phạm Đình Nghiệp. - Nghiên cứu so sánh giáo dục KNS ở Việt Nam với một số quốc gia khác. Kết quả của hướng nghiên cứu này cho thấy, nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; từ nhiệm vụ triển khai chiến lược và đổi mới giáo dục phổ thông, từ xu thế giáo dục thế giới và từ sự phát triển nội tại của khoa học giáo dục nói chung và bước đầu đã đạt được những thành tựu nhất định.
Một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục KNS cho học sinh như đề tài “Thực trạng phạm tội của học sinh, sinh viên Việt Nam trong mấy năm gần đây và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường” của tác giả Vương Thanh Hương và Nguyễn Minh Đức. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục KNS cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục KNS vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục KNS.
Theo đó, các nội dung giá dục KNS cụ thể đã được triển khai ở các cấp bậc học. Trong giáo dục THPT, giáo dục KNS cho học sinh đã được triển khai qua chương trình ngọai khóa theo dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ. Quá trình giáo dục KNS cho học sinh các trường THPT thông qua công tác giáo dục của tổ chức đoàn TNCS Hồ Chí Minh được thực hiện dựa trên những kết quả nghiên cứu về vấn đề này, đồng thời cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu đưa giáo dục KNS vào chương trình giáo dục phổ thông ngày càng phát triển.