Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT Quận 6 - Thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường THPT Quận 6 - Thành phố Hồ Chí Minh. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong xu thế toàn cầu hóa, nước ta đang trên đà hội nhập và phát triển đã làm thay đổi một cách toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội tạo ra cuộc sống tốt đẹp cho người dân.
Tuy nhiên bên cạnh đó cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề mà trước đây con người chưa gặp, chưa trải nghiệm và chưa phải ứng phó, đương đầu, cũng có nhiều vấn đề mặc dù đã xuất hiện nhưng chưa mang tính phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại nên con người dễ bề đối phó. Muốn thành công và sống có chất lượng trong xã hội ngày nay, con người nói chung và học sinh nói riêng cần phải có sự hiểu biết và kỹ năng sống. Giáo dục kỹ năng sống trở thành mục tiêu và là một nhiệm vụ trong giáo dục nhân cách toàn diện. Chính vì vậy, nhu cầu vận dụng kỹ năng sống một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong Diễn đàn giáo dục cho mọi người, trong việc thực hiện Công ước quyền trẻ em; trong Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển, giáo dục cho mọi người.
Kế hoạch hành động DaKar về Giáo dục cho mọi người (Senegan - 2000) đã đặt ra trách nhiệm cho mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp và kỹ năng sống cần được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục. Gần đây nhất là tuyên bố về cam kết của tiểu ban đặc biệt của Liên Hiệp quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đó đồng ý rằng “Đến 2005 đảm bảo rằng có ít nhất 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, giáo dục và dịch vụ cần thiết để phát triển kỹ năng sống để giảm những tổn thương do sự lây nhiễm HIV” (Nguồn: Uniceflife skils). UNESCO đã tiến hành dự án ở 5 nước Đông Nam Á nhằm vào các vấn đề khác nhau liên quan đến kỹ năng sống. Kết quả của dự án là bức tranh tổng thể các 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận thức, quan niệm về kỹ năng sống mà các nước tham gia dự án đang áp dụng hoặc dự kiến áp dụng.
Dự án chia làm 2 giai đoạn với hai nhóm nghiên cứu: Giai đoạn 1: Xác định quan niệm của từng nước về kỹ năng sống. Câu hỏi đặt ra ở giai đoạn này cho mỗi nước là: Quan niệm về kỹ năng sống như thế nào và phát triển quan niệm này như thế nào trong bối cảnh giáo dục cho mọi người? Việt Nam cũng tham gia chia sẻ với các nước về vấn đề này qua ấn phẩm “Life skills Mappingain Việt Nam”, được in bằng tiếng Việt và tiếng Anh là kết quả của nghiên cứu trong khuôn khổ hợp tác giữa UNESCO với Viện Chiến lược và chương trình giáo dục. Giai đoạn 2: Đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra. Như vậy, giáo dục KNS cho học sinh là một vấn đề đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm.
Ở một số quốc gia, GDKNS được lồng ghép vào các môn học, chủ đề, nội dung có liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc trên thực tế. Ở một số nước, GDKNS hướng đến các vấn đề như: Vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nước khác GDKNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng xử, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường. Đối với Việt Nam đây là một vấn đề mới nên chưa có nhiều công trình nghiên cứu và cũng mới chỉ có sự tiếp cận trên một vài phương diện chủ yếu là giáo dục sức khoẻ và giáo dục vệ sinh môi trường.
Chủ yếu là GDKNS với sự hỗ trợ của UNICEF (2001 - 2005) nhằm hướng đến cuộc sống khoẻ mạnh cho trẻ em và trẻ chưa thành niên trong và ngoài nhà trường ở một số dự án như: “Trường học nâng cao sức khoẻ” của Bộ GD và ĐT, Bộ y tế, Tổ chức Y tế thế giới (WHO); dự án “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” của Bộ GD và ĐT. Giai đoạn 2 của chương trình mang tên: “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹ năng sống”. Ngoài hai lực lượng đã tham gia ở giai đoạn 1còn có 2 tổ chức xã hội chính trị là Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam. (nay là viện khoa học và giáo dục) phối hợp với cơ quan đại diện UNESCO tại Việt nam có đề tài giáo dục kỹ năng sống cho trẻ có hoàn cảnh khó khăn.
Viện khoa học giáo dục Việt Nam cũng đã biên soạn tài liệu về giáo dục kỹ năng sống tích hợp trong các môn học ở trường phổ thông từ năm học 2007 – 2008. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2005 – Viện chiến lược và chương trình giáo dục Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập và phát triển, nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên là cần thiết hơn bao giờ hết, nên đã có rất nhiều bài viết, nhiều công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này của các tác giả: Nguyễn Thị Hường, Lê Công Phượng [20]; Nguyễn Thanh Bình [2]; Lưu Thu Thủy [35]; Nguyễn Kim Dung, Vũ Thị Sơn [23]; Lưu Thị Lịch, Nguyễn Thị Chính, Đoàn Thị Hương [26]; Huỳnh Văn Sơn [31]; Nguyễn Dục Quang [29]; Nguyễn Quang Uẩn [38]. Những năm gần đây đã xuất hiện một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT [39]. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý giáo dục KNS cho học sinh THPT ở quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.
Chính vì vậy, tác giả chọn nghiên cứu về vấn đề này với nguyện vọng góp một phần sức lực và tâm trí nhỏ bé của mình vào việc nâng cao chất lượng giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THPT thuộc quận 6, nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục của quận ngày càng phát triển mạnh hơn. Các khái niệm cơ bản 1.Kỹ năng mềm Kỹ năng mềm (Soft skills) là thuật ngữ để chỉ các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống con người như: kỹ năng sống, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nghề nghiệp… Kỹ năng mềm chủ yếu là những kỹ năng thuộc tính cách con người nhưng nó không phải là cá tính đặc biệt của mỗi cá nhân, mà là những thuộc tính tâm lý được trãi nghiệm qua thực tiễn cuộc sống, tạo thành vốn quý cho mỗi con người có thể phát huy tối đa mọi tiềm năng và nội lực cá nhân. Kỹ năng sống Thuật ngữ kỹ năng sống (Life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Thuật ngữ này xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi nơi trên thế giới.
Việc sử dụng thuật ngữ này có ở tất cả các loại nước: phát triển, đang phát triển, có thu nhập cao, trung bình, thấp và các vùng giáo dục cho mọi người. Có nhiều cách hiểu, nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm kỹ năng sống: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có quan niệm cho rằng: Kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. - Quan niệm khác lại cho rằng kỹ năng sống là những kỹ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khoẻ mạnh. - Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là khả năng thích nghi, hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử một cách có hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày.
- Có quan niệm cho rằng kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày. Song tựu trung thì kỹ năng sống là những khả năng tâm lí xã hội của mỗi cá nhân để tương tác với người khác và giải quyết những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày một cách tích cực, có hiệu quả. Nói một cách khác, nó còn có khả năng nhận biết và thích ứng với những vấn đề của cuộc sống của mỗi cá nhân để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả. Nó được thể hiện trong hành vi thích nghi và tích cực của cuộc sống thường nhật.
Kỹ năng sống là tập hợp nhiều kỹ năng mà cá nhân có được nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại như: cách tổ chức cuộc sống, cách ăn nói giao tiếp, cách ứng xử trong xã hội, sinh hoạt cộng đồng – có liên quan với các kỹ năng khác của cá nhân, như kỹ năng nghề nghiệp Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Kỹ năng sống mang tính cá nhân vì đó là khả năng của cá nhân. Kỹ năng sống còn mang tính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng, miền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống thích hợp. Nó chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn hoá của gia đình, cộng đồng, dân tộc.
Kỹ năng sống cần thiết đối với thanh thiếu niên để họ có thể ứng phó một cách tự tin, tự chủ và hoàn thiện hành vi của bản thân trong giao tiếp, giải quyết các vấn đề của cuộc sống với mọi người xung quanh, mang lại cho mỗi cá nhân cuộc sống thoải mái, lành mạnh về thể chất, tinh thần và các mối quan hệ xã hội.