đặt vấn đề giáo dục học sinh chưa ngoan do có những lệch chuẩn hành vi trong “Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học lứa tuổi”. Trong cuốn “Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em”, tác giả Lê Như Hoa cũng đã phân tích và đi đến khẳng định: sự lệch chuẩn của văn hóa gia đình là nguyên 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân quan trọng của tình trạng trẻ em có hành vi sai lệch dẫn đến suy thoái nhân cách - một vấn đề nóng bỏng đang thu hút sự lo lắng, quan tâm của toàn xã hội. Các giảng viên Nguyễn Xuân Long - Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, PGS. TS Đinh Thị Kim Thoa - Trường Đại học Giáo dục Hà Nội cũng nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn trong các bài viết, bài giảng và các giáo trình giảng dạy bộ môn Tâm Lý học.
Trên các báo viết và báo mạng trong thời gian gần đây cũng đăng tải nhiều bài viết về thực trạng học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên lệch chuẩn mực xã hội như các bài viết “Giới trẻ và hành vi lệch chuẩn học đường” đăng trên Việt báo ngày 1 tháng 12 năm 2011, “Khi hành vi và phát ngôn lệch chuẩn lên ngôi” của tác giả Quế Ngân đăng trên báo Người đưa tin ngày 3 tháng 6 năm 2012. Tuy nhiên, dưới góc độ luận án tiến sĩ, luận văn cao học thì vấn đề này chưa được nghiên cứu nhiều. Đặc biệt, vấn đề quản lý giáo dục học sinh có hành vi lệch chuẩn ở một trường THPT cụ thể thì cho đến thời điểm này, tôi chưa thấy có luận văn nào đề cập tới. Sự cần thiết nghiên cứu vấn đề đối với giáo dục phổ thông Hiện nay, hiện tượng học sinh có hành vi lệch chuẩn ở các trường học nói chung và ở các trường THPT nói riêng đang là một vấn đề nhức nhối với toàn thể xã hội.
Việc quản lý giáo dục HSCHVLC là một bài toán đòi hỏi các nhà giáo dục và những ai tâm huyết với nền giáo dục nước nhà phải suy nghĩ. Vì thế, việc nghiên cứu đề tài “QLGDHSCHVLC ở trường THPT Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên” trong bối cảnh hiện nay là vô cùng cần thiết. Khi nghiên cứu đề tài này, chúng ta có điều kiện để tìm hiểu, đánh giá sâu sắc về hiện trạng HSCHVLC ở trường THPT, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong QLGDHSCHVLC trong trường THPT, từ đó đề ra các giải pháp để QLGDHSCHVLC ở trường THPT đạt hiệu quả. Nghiên cứu và ứng dụng đề tài này vào thực tế QLGD sẽ làm tăng thêm hiệu quả của quá trình giáo dục đạo đức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông.
Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài: 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý và chức năng của quản lý 1.1 Quản lý Định nghĩa quản lý có thể xét từ nhiều góc độ và các quan điểm tiếp cận khác nhau. Nghiên cứu về mặt quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản lý.
Từ điển tiếng Việt “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông coi, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế hệ “phát triển”.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm ,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học: [13, tr.
Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành; 2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học; 3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn; 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý.
327] Theo Henry Fayol : “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”[7,tr. Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành năm chức năng cơ bản: “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra” và sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những cống hiến cảu ông về quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [13, tr .327] Định nghĩa kinh điển nhất về quản lý là: các tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đuợc mục đích của tổ chức.9] Hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra.
Chức năng của quản lý Quản lí có 4 chức năng Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.12] Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.13] Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức.13] Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.13] Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình quản lý. Trong đó, từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với nhau. Trong quá trình quản lý thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý và đưa ra được các quyết định quản lý.
Kế hoạch Kiểm tra, Thông Tổ chức đánh giá tin Chỉ đạo Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục Theo nghĩa rộng: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ. Theo nghĩa hẹp: Giáo dục là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu.
“Quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”.12] Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. Quản lý nhà trường “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – Trò. Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.