Chương 1: Cơ sở lý luận của sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS THPT. Chương 2: Thực trạng sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS trường THPT huyện Thanh Ba – tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Biện pháp sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS trường THPT huyện Thanh Ba – tỉnh Phú Thọ. 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỬ DỤNG PHƢƠNG PHÁP KỶ LUẬT TÍCH CỰC TRONG GIÁO DỤC HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Chủ nghĩa Mác – Lênin coi kỷ luật là hiện tượng xã hội đặc biệt; các yêu cầu về kỷ luật của xã hội và các tổ chức là khách quan; song mức độ giáo dục và duy trì nó phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng giai cấp. Phương pháp kỷ luật tích cực - tài liệu hướng dẫn cho tập huấn viên, xuất bản năm 2009, bản quyền của tổ chức Plan tại Việt Nam. Các tác giả đề cập nghiên cứu về trẻ em, tâm lư lứa tuổi, tác dụng tiêu cực của việc trừng phạt trẻ em và trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng nhằm giáo dục, kỷ luật trẻ em một cách tích cực và hiệu quả.
Và đề ra các cách thức giúp phụ huynh, GV làm thế nào để con em, HS của mình trở nên ngoan ngoãn, học giỏi mà không phải dùng tới các hình phạt. Tác giả Maria Montessori đã có những nghiên cứu về vấn đề này. Ở đây tác giả tập trung nghiên cứu phương pháp tôn trọng sự khám phá độc lập, thử nghiệm ở trẻ tạo điều kiện cho trẻ tự do trong học tập và bình đẳng. Bà coi đây là nguyên tắc chỉ đạo trong PPGD vì nó vận dụng sự sáng tạo của trẻ chính là sự bổ sung cho hoạt động tổ chức của người lớn.
Nhìn chung các tác giả nghiên cứu các PPGD dành cho lứa tuổi trẻ em từ 1 đến 6 tuổi. Họ đều đưa ra các kiến thức, kỹ năng nhằm giáo dục trẻ một cách hiệu quả mà không sử dụng kỷ luật trừng phạt. Coi trọng việc học qua hành động và tôn trọng sự khám phá độc lập của trẻ. Trong nước Tác giả Nguyễn Kỳ, phương pháp giáo dục tích cực - NXB giáo dục, 1994.
Được coi là cuốn sách thực nghiệm về PPGD mới. Ông tập trung nghiên cứu về các PPGD tích cực và triển vọng của các PPGD tích cực trong 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 giáo dục HS. Chỉ thị số 2737/CT – BGDĐT cũng đã bàn về vấn đề này và được nhấn mạnh trong nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục phổ thông năm học 2012 – 2013, Bộ trưởng bộ GD – ĐT chỉ thị về nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục đã nêu “Tăng cường công tác quản lý, phối hợp đảm bảo an ninh, trật tự trường học, phòng chống tội phạm, bạo lực, tệ nạn xã hội trong học sinh, sinh viên. Áp dụng phương pháp kỷ luật tích cực, xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò”.
Các tài liệu tập huấn dành cho tập huấn viên các trường phổ thông. Như chuyên đề “giáo dục kỷ luật tích cực” của phòng GD – ĐT, Quận Bình Thạnh nhằm giúp GV ở từng bậc học nắm bắt các PPGD học sinh tích cực nhất. Luận bàn về vấn đề KLTC trong giáo dục HS, có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu với các góc độ và phương diện khác nhau. Tuy nhiên chủ yếu là nghiên cứu trên đối tượng trẻ em nhỏ tuổi.
Việc sử dụng PPKLTC trong giáo dục học sinh THPT thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ khoa học giáo dục. Mà chủ yếu là tập trung vào các dự án Plan tập huấn, do đó đây là mảng trống cần phải nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Từ những lý do đó trong luận văn của mình, chúng tôi nghiên cứu làm sáng tỏ việc sử dụng PPKLTC trong giáo dục HS THPT, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục HS THPT. Khái niệm cơ bản 1.
Kỷ luật Có nhiều quan điểm khác nhau về kỷ luật Tiếp cận khái niệm kỷ luật theo hướng kỷ luật là những quy định mang tính bắt buộc đối với mỗi cá nhân: Theo từ điển tiếng Việt trung tâm Từ điển học – NXB Đà Nẵng – 2000 thì kỷ luật có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất: Kỷ luật là “tổng thể những quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó”; nghĩa thứ hai: Kỷ luật là hình thức phạt đối với người hoặc tổ chức vi phạm kỷ luật. Kỷ luật là “những quy định, quy ước của một cộng đồng (một tập thể) về những hành vi cần tuân theo nhằm đảm bảo sự phối hợp hành động thống nhất chặt chẽ của mọi người. Tính chất của kỷ luật là bắt buộc nếu có ai đó không tuân theo, vi phạm thì sẽ bị phạt” [6]. Kỷ luật là “Những quy định của một tập thể, cơ quan, xã hội mà mọi người phải làm theo, nếu sai trái bị trừng phạt” [21].
Kỷ luật lao động: “Những quy định được đặt ra trong khi làm công việc nào đó, buộc mọi người phải chấp hành nghiêm túc và đúng để tạo ra sự hài hòa trong lao động sản xuất, liên kết mọi người vào một quá trình thống nhất” [10]. Phạm trù kỷ luật với nội hàm đề cập đến sự thúc đẩy, yếu tố hỗ trợ để cá nhân tự rèn luyện và trưởng thành: Nhà triết học Erich Fromm từng nói: “không có tính kỷ luật, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên chao đảo và thiếu tập trung. Nếu hành động của chúng ta tùy theo tâm trạng và ý chí của chúng ta thì tất cả những điều đó không hơn gì một thú tiêu khiển. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ trở nên xuất sắc nếu ta không thực hiện những điều chúng ta đặt ra, những mục tiêu mà chúng ta hướng ta hướng tới với tinh thần kỷ luật tự giác cao”.
Kỷ luật là “sự tự rèn luyện giúp chúng ta tự sửa chữa, tạo khuôn nếp, tạo sự mạnh mẽ, hoặc giúp chúng ta trở nên hoàn hảo hơn” [23]. Sybil Stamtom đã viết: “kỷ luật đúng nghĩa không thúc ép sau lưng bạn, nó ở bên cạnh bạn, khích lệ bạn. Khi hiểu rằng, kỷ luật là tự chăm sóc mình chứ không phải tự trừng trị mình, bạn sẽ không e dè khi nhắc đến nó mà ngược lại sẽ vun đắp cho nó”. Nhìn chung các tác giả đều thống nhất kỷ luật là những quy định, quy ước mang tính pháp chế của một tổ chức xã hội, nhóm xã hội nhằm tạo sự gắn kết tập thể (nhóm xã hội) trong hoàn thành công việc, đảm bảo tính hiệu quả trong thực hiện công việc.
8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 Theo chúng tôi: Kỷ luật là những quy định được đặt ra trong một tổ chức, trong tập thể mà mọi người phải chấp hành, tuân theo nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức,mục tiêu của tập thể đề ra. Kỷ luật tích cực Kỷ luật tích cực là kỷ luật theo hướng tạo ra cơ hội tốt nhất có thể có được để học sinh tự nhận thấy lỗi và chủ động sửa chữa, tìm ra hướng phát triển tích cực của mình. Theo Nguyễn Dục Quang thì “Lâu nay “kỷ luật” khiến người ta liên tưởng đến “hình phạt”, những lời quở trách nặng nề, thậm chí là những trận đòn roi vì còn nặng quan niệm “thương cho roi cho vọt”. Thường khi nói đến kỷ luật là người ta nghĩ tới những cái xấu là tiêu cực, cần phải có những biện pháp trừng phạt thích đáng.
[25] Giữa kỷ luật và KLTC có mối liên hệ mật thiết với nhau. KLTC là kỷ luật, nhưng sau kỷ luật sẽ làm HS tiến bộ. Nó hoàn toàn khác với lối giáo dục truyền thống theo kiểu “đòn roi”. KLTC là động viên, khuyến khích, hỗ trợ nuôi dưỡng lòng ham học dẫn đến ý thức kỷ luật một cách tự giác, nâng cao năng lực và lòng tự tin của HS vào GV.
KLTC nhấn mạnh đến việc thay đổi hành vi hơn là xử phạt, theo tư duy nguyên nhân và hậu quả. Là cách giúp HS tự kiểm điểm bản thân, có trách nhiệm với hành vi của mình, đồng thời xây dựng cho trẻ kỹ năng giải quyết vấn đề và tinh thần hợp tác phi bạo lực cả về thể xác lẫn tinh thần, là một quá trình thường xuyên, liên tục và nhất quán. Thông qua đó khuyến khích khả năng tư duy, lựa chọn của HS. So với kỷ luật tiêu cực thì HS chưa ngoan (hoặc HS mắc lỗi) cảm thấy được tôn trọng hơn, ít có những phản ứng tiêu cực với bản thân, gia đình, bạn bè và xã hội.
Tâm lý của các em cũng có những biểu hiện tốt hơn, không còn mặc cảm, tự ti, chủ động thay đổi bản thân, phát huy các giá trị tích cực của mình. KLTC không phải là luôn chú ý kỷ luật HS hoặc hình phạt nặng hơn 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Downloaded by nguyenphuong Phuong nguyen (Kimphuongrio@gmail.com) lOMoARcPSD|16991370 trước mà cần có quan niệm rằng việc mắc lỗi của HS được coi như lỗi tự nhiên của quá trình học tập và rèn luyện trong nhà trường. Do vậy, nhiệm vụ quan trọng của nhà giáo dục là làm thế nào để HS nhận thức được bản thân, tự kiểm soát hành vi, thái độ trên cơ sở các quy định, nội quy. Như vậy người GV là người phân tích đúng, sai đối chiếu các quy định của những hành vi không đúng để HS nhận ra lỗi của mình để điều chỉnh sửa đổi, để bản thân đạt được những tiến bộ nhất định.
Dạy và rèn luyện cho các em tính tự giác tuân theo các quy định và quy tắc đạo đức ở thời điểm trước mắt cũng như lâu dài là những phương pháp mang tính dài hạn giúp phát huy tính KL tự giác của HS. Quá tình này thể hiện rõ những mong đợi, quy tắc và giới hạn mà HS phải tuân thủ, xây dựng mối quan hệ tôn trọng giữa GV và HS. Giúp các em có được những kỹ năng sống, tăng sự tự tin, khả năng xử lý các tình huống khó khăn trong học tập và trong cuộc sống; các em biết cách cư xử lịch sự, nhã nhặn, không bạo lực, biết cảm thông và tôn trọng quyền lợi của người khác.