lời mở đầu của hiến chƣơng LHQ, khẳng định lòng tin vào quyền cơ bản của con ngƣời, về phẩm chất, nhân cách giá trị của mỗi ngƣời.: sáng kiến GD ( LVEP:LivingValues-Edducation Program) ra đời và đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới. Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một chƣơng trình giáo dục”. Chƣơng trình này đƣa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phƣơng pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết.[21] Bƣớc vào thế kỷ 21, khủng hoảng về giá trị đã diễn ra trên toàn cầu và tại mỗi quốc gia. Tổ chức UNESCO đã có khuyến cáo về vấn đề này và các quốc gia đều đã có những quan tâm nhất định.
Trên thế giới nhiều ngành khoa học trong đó có Tâm lý học, Giáo dục học đã chú ý nghiên cứu việc giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ. Thực tiễn giáo dục cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XXI cho thấy chỉ thông qua con đƣờng giáo dục, giá trị mới có thể tạo nên cơ sở bền vững cho việc giải quyết khủng hoảng trong phát triển nhân cách của học sinh. Tại Diễn đàn Giáo dục Thế giới Dakar, tháng 5/2000 trƣờng học thân thiện với ngƣời học đƣợc phản ánh trong quan điểm toàn diện về chất lƣợng đƣợc nêu trong Khuôn khổ Hành động Dakar. UNESCO và UNICEF đã nhận thấy mô hình “trường học thân thiện” với các yếu tố của nó là một giải pháp nâng cao chất lƣợng và đảm bảo công bằng giáo dục.
Vì vậy mô hình này đã đƣợc phổ biến, áp dụng ở 40 quốc gia trên thế giới. Trong mô hình trƣờng học thân thiện, tiêu chí giáo dục KNS vừa nhƣ là một biểu hiện của chất lƣợng giáo dục, vừa để giúp HS sống an toàn. Kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi ngƣời mỗi quốc gia cũng nhấn mạnh; cần đảm bảo cho ngƣời học đƣợc tiếp cận chƣơng trình GDKNS phù hợp và kỹ năng sống của ngƣời học là một tiêu chí của chất lƣợng giáo dục. Cho nên, trong mục tiêu 6 của chƣơng trình đã coi kỹ năng sống là một khía cạnh của chất lƣợng giáo dục.
Đánh giá chất lƣợng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kỹ năng sống của ngƣời học. Nhƣ vậy tiến hành giáo dục KNS để nâng cao chất lƣợng giáo dục. Ở Việt Nam Vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho thế hệ trẻ đã thu hút nhiều ngành khoa học quan tâm nghiên cứu, trong đó Khoa học giáo dục có vai trò, trọng trách lớn cả về nghiên cứu lý luận lẫn triển khai thực tiễn giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên phù hợp với thực tiễn giáo dục nƣớc nhà. Với nhiều năm nghiên cứu về giáo dục, PGS.TS Hà Nhật Thăng đã cho xuất bản cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” năm 1998 và đã tái bản nhiều lần.
Trong đó, trang bị cho học sinh sinh viên nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tƣơng ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại. Những kết quả nghiên cứu trên đã đƣợc ứng dụng vào việc xây dựng chƣơng trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của môn Giáo dục công dân, triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nƣớc. Một trong những ngƣời có những nghiên cứu mang tính hệ thống về kỹ năng sống và GDKNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình. Tác giả và cộng sự đã triển khai nghiên cứu tổng quan về quá trình nhận thức về kỹ năng sống và đề xuất yêu cầu tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục và GDKNS ở nhà trƣờng phổ thông, đồng thời tìm hiểu thực trạng GDKNS cho ngƣời học từ trẻ mầm non đến ngƣời lớn thông qua giáo dục chính quy và giáo dục thƣờng xuyên ở Việt Nam.
Trên cơ sở đó xác định thách thức và định hƣớng trong tƣơng lai để đẩy mạnh GDKNS trên cơ sở thực tiễn ở Việt Nam và đối chiếu với mục tiêu 3 và mục tiêu 6 của Chƣơng trình hành động Dakar (Trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện chiến lƣợc và chƣơng trình giáo dục với UNESCO tại Hà Nội). Nội dung GD KNS cũng đƣợc các nhà trƣờng thực sự quan tâm từ khi có chỉ thị 40/2008 CT-BGD&ĐT phát động các nhà trƣờng thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trƣờng học thân thiện, học sinh tích cực” trong đó nội dung thứ ba và thứ tƣ của phong trào chính là tổ chức giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Mục đích rèn luyện cho học sinh, sinh viên, kỹ năng ứng xử thân thiện trong mọi tình huống; thói quen và kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng hoạt động xã hội; Giáo dục cho học sinh thói quen rèn luyện sức khỏe, ý thức tự bảo vệ bản thân, Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, ý thức chung sống thân thiện, giải quyết hợp lý các tình huống mâu thuẫn, xung đột; có thái độ lên án và kiên quyết bài trừ mọi hành vi bạo lực. Nhƣ vậy vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên không còn là vấn đề mới mẻ trong các nhà trƣờng mà là một nhiệm vụ quan trọng đƣợc các nhà trƣờng xây dựng trong kế hoạch từng năm học, Nhƣng chúng ta chƣa quan tâm đúng mức đến giáo dục giá trị sống cho học sinh.
Vì vậy chƣa giáo dục đầy đủ phẩm 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất nhân cách, mới chỉ chú ý đến giáo dục hành vi, rèn luyện biểu hiện bên ngoài, do đó học sinh chƣa hiểu bản chất của các kỹ năng sống cần thực hiện, dẫn đến kết quả giáo dục chƣa cao, số học sinh, sinh viên có hành vi lệch chuẩn trong các nhà trƣờng ngày càng ra tăng trong thời gian gần đây, gây sự lo lắng bức xúc trong dƣ luận, sự trăn trở của ngành giáo dục. Vì thế Khoa học giáo dục ngày nay đang hƣớng vào nghiên cứu giáo dục giá trị sống gắn liền với kỹ năng sống, nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tiễn giáo dục học sinh. Với nhiều năm nghiên cứu, nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Trần Văn tính, Vũ Phƣơng Liên đã cho ra đời cuốn sách “ giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh THPT”. Cuốn sách đƣợc viết lồng ghép giữa giáo dục GTS và KNS, trong đó GD GTS luôn là nền tảng, KNS là công cụ và phƣơng tiện để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống.
Đây là những tiền đề đƣa công tác giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông vào các nhà trƣờng mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc nghiên cứu đề tài giáo dục Giá trị sống và kỹ năng sống, nhƣng chủ yếu các đề tài phân tích làm rõ thực trạng trƣớc tính cấp bách của vấn đề giáo dục giá trị sống, hoặc kỹ năng sống, chƣa giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu lý luận một cách hệ thống, về biện pháp quản lý, nội dung, hình thức tổ chức, phƣơng pháp giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh nói chung và học sinh ở một trƣờng THPT cụ thể nói riêng. Một số đề tài đã nghiên cứu tƣơng đối đầy đủ các nhiệm vụ Nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng, và đề xuất giải pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống hoặc kỹ năng sống nhƣng ít có đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kết hợp với giáo dục kỹ năng sống trong một nhà trƣờng THPT cụ thể. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy, cần thiết phải khai thác nội lực chính các hoạt động giáo dục trong nhà trƣờng THPT nhằm quản lý, chỉ đạo có hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh ở một trƣờng THPT.
Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Nam Phù Cừ, tỉnh Hưng yên” có kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trên, Vấn đề mà luận văn quan tâm là biện pháp quản lý của nhà trƣờng để chỉ đạo và thực hiện hoạt động giáo dục GTS, KNS cho học sinh một cách hiệu quả, nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện của nhà trƣờng. Một số khái niệm sử dụng để nghiên cứu đề tài 1. Quản lý và quản lý giáo dục 1. Quản lý Khái niệm “quản lý” đƣợc hình thành từ rất lâu và cùng với sự phát triển của tri thức nhân loại cũng nhƣ nhu cầu của thực tiễn nó đƣợc xây dựng và phát triển ngày càng hoàn thiện hơn.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Hoạt động quản lý là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi những con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt mục tiêu chung. Chính vì thế quản lý đƣợc hiểu bằng nhiều cách khác nhau và đƣợc định nghĩa ở nhiều khía cạnh khác nhau trên cơ sở những quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau: - Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thƣờng qua các trƣờng hợp cụ thể.