Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG THCS TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vào những năm đầu của thế kỷ XXI, với sự hợp tác của các nhà giáo dục trên thế giới, với sự hỗ trợ của UNESCO và tài trợ của Uỷ ban quốc tế và UNICEF, Tây Ban Nha đã cho ra đời cuốn sách “Những giá trị sống: Một chương trình giáo dục”. Chương trình này đưa ra những hoạt động giá trị khác nhau dựa trên kinh nghiệm và những phương pháp thực hành đối với các giáo viên và các huấn luyện viên, đối với những trẻ em và những thanh niên muốn tìm hiểu và phát triển 12 giá trị xã hội và cá nhân cơ bản, đó là: Hợp tác, Tự do, Hạnh phúc, Trung thực, Khiêm tốn, Tình yêu, Hoà Bình, Tôn trọng, Trách nhiệm, Giản dị, Khoan dung và Đoàn kết [38].
Mark Halsted và Monica J.Taylor trong nghiên cứu: “Dạy và học về giá trị - đánh giá về những nghiên cứu gần đây” cho rằng giáo dục giá trị trong nhà trường được thực hiện thông qua nhiều con đường và phương pháp. Giáo dục giá trị thông qua chương trình, chính sách trường học nghĩa là nhà trường cần xác định rõ ràng các giá trị và cách áp dụng giá trị đó vào trường học. Ngoài ra, giáo dục giá trị còn được thực hiện thông qua môi trường học đường đặc biệt phải chú ý đến bầu không khí lớp học, cách thức giao tiếp, phong cách quản lý, giải quyết các mối bất hòa,… và điều quan trọng là nhà trường phải đặt ưu tiên cho những yêu cầu cơ bản và sự thích thú của học sinh. Sự làm gương của giáo viên cũng được đánh giá là một trong những phương tiện hiệu quả trong việc giáo dục giá trị.
Cách giảng dạy, giao tiếp hàng ngày… có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành giá trị ở học sinh. Nghiên cứu đã chỉ ra trẻ em thường hâm mộ những giáo viên có phẩm chất: bao dung, hiền lành, công bằng, chính trực, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn cư xử hợp lý, sẵn sàng giải thích bất cứ điều gì cho học sinh, không phán xét và kì thị học sinh [37]. Vấn đề quản lí hoạt động giáo dục GTS ở một số nước: - Singapore là một trong số các nước nâng quản lí hoạt động giáo dục GTS lên tầm quốc gia. Nếu ở nhiều nước giáo dục GTS chỉ được xem là vấn đề ở tầm vĩ mô, được xác định những GTS cơ bản, còn các hoạt động giáo dục được đưa về các cơ sở giáo dục, thì ở Singapore các hoạt động giáo dục GTS còn được tổ chức cả ở tầm quốc gia, với sự tham gia của toàn dân, không phân biệt tuổi tác, học vấn, sắc tộc.
Tại đây, giáo dục GTS được quản lí ở tầm quốc gia, như một trong những “quốc sách hàng đầu”, với sự chỉ đạo cụ thể, sâu sát của nhà nước, có sự tham gia của toàn dân, được đầu tư đúng mức, thì sự nghiệp giáo dục chắc chắn sẽ thực hiện được sứ mạng của nó là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, có sực cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập hiện nay. - Thái Lan xác định hệ giá trị gồm 7 giá trị truyền thống và 7 giá trị hiện đại + Bảy giá trị truyền thống 1. Thân ái, chăm sóc chia sẻ: Quan tâm giúp đỡ người khác như trẻ em phụ nữ. Bình tâm: Làm sao giữ được cân bằng giữa các trạng thái tâm lý đối nghịch, như được và mất, khen và chê, sướng và khổ, thắng và thua, làm sao trong mọi tình huống giữ được tĩnh tâm, vui lòng và yên bình; 3.
Nhã nhặn lịch sự: Tôn trọng quan điểm, ý kiến nhân cách người khác, tạo cho bản thân một cuộc sống vui vẻ hài lòng; 4. Phong cách sống đơn giản tạo nên tâm trí chủ động (khống chế) đối với các ham muốn, tránh được thiên lệch và ép buộc; 5. Yêu hòa bình và hài hòa 6. Yêu gia đình: Người Thái rất quý trọng tình cảm này, cho rằng đó là khởi đầu tình yêu ở mọi người - tình cảm căn bản có vai trò quan trọng đối với công cuộc phát triển xã hội Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Yêu nước: Trung thành, tự hào sẵn sàng hy sinh vì tổ quốc. Chủ nghĩa yêu nước và ý thức công dân là giá trị cơ bản dựng nên tinh thần dân tộc. + Bảy giá trị hiện đại 1. Tự trọng, tự tin tạo thành ý niệm về bản thân, giữ vai trò then chốt làm cho người ta trở nên tích cực có trách nhiệm với mình, với người, tôn trọng mình và tôn trọng người; 2.
Tôn trọng nhân phẩm và nhân quyền có tác dụng quyết định trong xây dựng một xã hội công lý, yên bình; 3. Khoan dung: Xóa bỏ định kiến, cởi mở, tôn trọng đa dạng văn hóa, niềm tin, tín ngưỡng, các quyền tự do cơ bản, xây dựng một xã hội hòa bình, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau; 4. Công lý và công bằng: Mọi người bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt tín ngưỡng, nam nữ, niềm tin, vị trí xã hội; 5. Tinh thần trách nhiệm: là giá trị quan trọng nhất của con người tích cực hoạt động vì mình, vì mọi người và xã hội; 6.
Cân đối giữa tinh thần dân tộc và quốc tế: Tinh thần yêu nước gắn với quan điểm cùng tồn tại hòa bình, tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng dân tộc; 7. Yêu thiên nhiên và bảo vệ thiên nhiên: Hiểu biết các quá trình sinh thái, quan hệ hài hòa giữa con người và môi trường, bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. - Ở Nhật Bản bên cạnh các giá trị của xã hội công nghiệp như giáo dục, KHKT, công nghệ lối sống công nghiệp, cần cù, sáng tạo… thì giáo dục Nhật Bản vẫn giữ các giá trị truyền thống như lễ giáo, coi trọng hiếu thảo, lễ độ, nhân hậu. Hơn một thế kỷ hiện đại hóa, thanh niên Nhật chú trọng giá trị tự tin, lạc quan, tích cực hoạt động, sống thật, bản lĩnh, đồng thời vẫn giữ các giá trị đạo đức, coi trọng các giá trị tinh thần, đề cao cuộc sống có lý tưởng.
Bộ Giáo dục cụ thể hoá trong tám giá trị sau: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Chính trực: Ý tưởng của chúng ta là thống nhất suy nghĩ, tình cảm và hành động, nhất quán với các biểu hiện thông qua tầm nhìn, sứ mệnh và văn hóa của các tổ chức nói chung, biểu hiện ra hành vi lấy đạo đức phục vụ làm động cơ, quan hệ với người khác cởi mở lương thiện, không thiên vị, lễ độ, tích cực đóng góp, học tập, đổi mới, cầu tiến. Kính trọng: Cởi mở chấp nhận nhu cầu và cách thức cần quan hệ với người khác, quan tâm bản thân và người khác, thể hiện ở hành vi quan hệ tốt đẹp, công bằng, không phân biệt đối xử với người khác, lắng nghe và tôn trọng quan điểm và văn hóa đa dạng của người khác, biết ơn giúp đỡ mình. Trình độ chuyên nghiệp: Giữ gìn nhân phẩm và ý thức về ảnh hưởng hiệu quả của hành vi bản thân đối với người khác.
Lòng trắc ẩn: Thương người, thông cảm, phong thái xây dựng giúp đỡ, biểu hiện qua trí tuệ xúc cảm, hiền hòa, kiên tâm với bạn đồng nghiệp và người khác. Tinh thần trách nhiệm: Có kế hoạch sử dụng thời gian hợp lý nhất để thực hiện mọi trách nhiệm cá nhân, làm việc có hiệu quả, thể hiện qua hành vi với lòng tự tin mãnh liệt, vui vẻ nhận trách nhiệm, tạo cơ hội phát triển. Không ngừng hoàn thiện bản thân: Theo khẩu hiệu “Mỗi ngày tiến một bước nhỏ”, không kể lúc nghỉ ngơi hay lúc làm việc, có sáng kiến học hỏi, sẵn sàng đổi mới, dám chấp nhận thách thức, tích cực làm việc có hiệu quả. Luyện tập phán đoán: tận dụng mọi thông tin và trải nghiệm có thể để đối sách với tình thế, kết hợp với trực giác phân tích các lựa chọn và rủi ro, kịp thời đưa ra các quyết định theo nguyên tắc, biểu hiện qua hành vi đánh giá, tình hình một cách khách quan, đánh giá đúng người khác và khả năng bản thân, đáp ứng và ra các quyết định kịp thời, hạn chế rủi ro.
Lãnh đạo và hợp tác: Ai cũng có thể gặp hoàn cảnh đòi hỏi khả năng lãnh đạo, khi đó cần có khả năng hợp tác, phối hợp các hoạt động, biểu hiện qua hành vi đánh giá đúng đòi hỏi của hoàn cảnh đến với mình, khi khả năng xuất hiện Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn biết sử dụng các nguồn lực, xác định được các chuẩn mực cho đơn vị mình lãnh đạo, có năng lực đại diện, chỉ huy, xác định phương hướng cho đơn vị. - Ở Hàn Quốc các giá trị sống mang tính truyền thống ở đây còn giữ gìn cho đến ngày nay đều gắn liền với tên tuổi Khổng Tử, trong đó gia đình là quan trọng nhất. Các giá trị được xây dựng đều đề cao đạo đức với những đức tính như lòng hiếu thảo, tinh thần tập thể, kính trọng bề trên, trung thực, chân thành, khiêm tốn, nhã nhặn, hài hòa, đúng mực. Tại Việt Nam Người Việt Nam có truyền thống giáo dục đạo đức phong phú, tiếp thu các giá trị Nho giáo đồng thời có những giá trị và cách thức giáo dục giá trị mang bản sắc riêng.
Cũng là nói về chữ “nhân” nhưng cách nói của người Việt thật dễ hiểu dễ nhớ: “Thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng…”. Hay khi nói về chữ “nghĩa”: “con người sống với nhau có tình có nghĩa, có thủy có chung”, giải quyết vấn đề “có tình có lý”. Chữ lễ được đề cao ở mỗi trường học và trong việc giáo dục con em: “Tiên học lễ, hậu học văn”, hoặc qua ứng xử trong gia đình: “Kính trên, nhường dưới”, “Anh em như thể tay chân”. Chữ “Trí” thể hiện việc khuyến khích học tập, mở mang tri thức, suy xét: “Học ăn, học nói, học gói, học mở”, “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”… Trong quan hệ xã hội con người luôn được nhắc nhở luôn trung tín, giữ chữ tín, tránh bội tín tuy nhiên cũng không nên cuồng tín: “Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng”, “Nói lời thì giữ lấy lời…” Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã truyền vào tâm thức của người Việt hai chữ Trung, Hiếu: “Trung với nước - Hiếu với dân”.