Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại THPT Vũ Văn Hiếu, Hạ Long

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông vũ văn hiếú thành phố, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

109
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. MỞ ĐẦU

2. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

1.2. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Các nghiên cứu trong nước

3. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC / Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT VŨ VĂN HIẾU, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu

2.2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu

2.2.2. Kết quả nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu

2.2.3. Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh / ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu

2.2.3.1. Xây dựng kế hoạch
2.2.3.2. Tổ chức thực hiện
2.2.3.3. Chỉ đạo điều phối

2.2.4. Giám sát, kiểm tra

2.2.5. Đánh giá chung

2.2.5.1. Ưu điểm và thuận lợi
2.2.5.2. Khuyết điểm và khó khăn

2.3. Tiểu kết chương 2

4. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC/Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT VŨ VĂN HIẾU, THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

3.1. Đổi mới giáo dục và nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Định hướng đổi mới giáo dục

3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.1.5. Nguyên tắc tính hiệu quả

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu

3.2.1. Quán triệt các chỉ thị giáo dục đạo đức/ ý thức pháp luật của Đảng, Nhà nước vào nội dung hoạt động của nhà trường

3.2.2. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh phù hợp với tình hình nhà trường

3.2.3. Tổ chức nâng cao nhận thức, vai trò trách nhiệm của các thành viên, các tổ chức trong nhà trường về hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật cho học sinh

3.2.4. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm và các bộ phận hữu quan trong nhà trường thực hiện kế hoạch đặt ra

3.2.5. Giám sát, kiểm tra, xác định hiệu quả, kịp thời biểu dương gương tốt và việc tốt, chấn chỉnh các yếu kém thực hiện giáo dục đạo đức / ý thức pháp luật cho học sinh

3.2.6. Tăng cường cung ứng các điều kiện vật chất và tinh thần cho mục tiêu đề ra

3.3. Mối liên hệ giữa các biện pháp

3.4. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành giáo dục. Việc này không chỉ giúp hình thành nhân cách mà còn góp phần vào sự phát triển toàn diện của học sinh. Đạo đức là nền tảng cho sự phát triển bền vững của xã hội. Trong bối cảnh hiện nay, việc giáo dục đạo đức cho học sinh càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

1.1. Khái niệm giáo dục đạo đức trong trường học

Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành và phát triển các giá trị đạo đức cho học sinh. Điều này bao gồm việc giáo dục về lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và ý thức công dân. Các chương trình giáo dục đạo đức cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm lý của học sinh.

1.2. Vai trò của giáo viên trong quản lý giáo dục đạo đức

Giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt các giá trị đạo đức cho học sinh. Họ không chỉ là người dạy kiến thức mà còn là tấm gương cho học sinh noi theo. Việc giáo viên thực hiện tốt vai trò này sẽ giúp học sinh hình thành những phẩm chất tốt đẹp.

II. Thách thức trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Trong quá trình quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, nhiều thách thức đã xuất hiện. Những yếu tố như sự phát triển của công nghệ thông tin, ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai và áp lực từ xã hội đã làm cho việc giáo dục đạo đức trở nên khó khăn hơn.

2.1. Ảnh hưởng của công nghệ đến giáo dục đạo đức

Công nghệ thông tin đã tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại không ít thách thức. Học sinh dễ dàng tiếp cận với thông tin không phù hợp, dẫn đến việc hình thành những giá trị sai lệch. Do đó, cần có sự quản lý chặt chẽ hơn trong việc sử dụng công nghệ trong giáo dục.

2.2. Sự suy giảm giá trị đạo đức trong xã hội

Xã hội hiện đại đang chứng kiến sự suy giảm của nhiều giá trị đạo đức truyền thống. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và hành vi của học sinh. Cần có những biện pháp cụ thể để khôi phục và phát huy các giá trị đạo đức trong giáo dục.

III. Phương pháp quản lý giáo dục đạo đức hiệu quả cho học sinh THPT

Để quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp phù hợp. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giáo dục mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

3.1. Xây dựng chương trình giáo dục đạo đức toàn diện

Chương trình giáo dục đạo đức cần được xây dựng một cách toàn diện, bao gồm cả lý thuyết và thực hành. Việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể sẽ giúp học sinh áp dụng những gì đã học vào thực tiễn.

3.2. Tăng cường sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường

Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường là rất quan trọng trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Cần có những buổi họp phụ huynh, các hoạt động chung để tạo sự gắn kết và đồng thuận trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Việc áp dụng các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức trong thực tiễn đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các trường học đã có những chương trình giáo dục đạo đức hiệu quả, giúp học sinh phát triển toàn diện.

4.1. Kết quả từ các chương trình giáo dục đạo đức

Nhiều trường học đã triển khai thành công các chương trình giáo dục đạo đức, giúp học sinh nâng cao nhận thức và hành vi. Các hoạt động như tình nguyện, tham gia các phong trào xã hội đã giúp học sinh rèn luyện phẩm chất đạo đức.

4.2. Những mô hình giáo dục đạo đức thành công

Một số mô hình giáo dục đạo đức thành công đã được áp dụng tại các trường THPT, như mô hình giáo dục qua trải nghiệm, mô hình giáo dục tích cực. Những mô hình này đã chứng minh được hiệu quả trong việc hình thành nhân cách cho học sinh.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong quản lý giáo dục đạo đức

Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Để nâng cao chất lượng giáo dục, cần có những biện pháp quản lý hiệu quả và phù hợp với thực tiễn.

5.1. Định hướng phát triển giáo dục đạo đức trong tương lai

Trong tương lai, cần tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức, áp dụng công nghệ thông tin vào giáo dục. Việc này sẽ giúp học sinh tiếp cận với các giá trị đạo đức một cách hiệu quả hơn.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong giáo dục đạo đức

Cộng đồng cần được khuyến khích tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh. Sự hỗ trợ từ cộng đồng sẽ tạo ra một môi trường giáo dục tích cực và hiệu quả hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường trung học phổ thông vũ văn hiếú thành phố hạ long tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, phần kết luận và khuyến nghị, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Chƣơng 2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật cho học sinh trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 3. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức/ý thức pháp luật cho học sinh Trường THPT Vũ Văn Hiếu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.

Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ xưa đến nay, trong mọi thời đại, đạo đức có vai trò quan trọng trong xã hội với những chuẩn mực giá trị đúng đắn, đạo đức là một bộ phận quan trọng trong nền tảng tinh thần của xã hội. Đạo đức góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Ngược lại nếu xã hội bị khủng hoảng về đạo đức, chính là một nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội.

Do đó vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức luôn được nhiều người quan tâm. Ở phương Đông, ngay từ thời cổ đại Khổng Tử (551-479 TCN) nhà giáo dục lớn của Trung Hoa phong kiến đề cao đường lối đức trị và lễ trị để trị quốc an dân, phát triển đất nước. Theo quan điểm của ông thì cơ sở của đường lối đức trị là lòng Nhân, lòng yêu thương con người. Ông coi Nhân là gốc rễ của các đức khác, các đức tụ cả ở Nhân.

Khổng Tử cho rằng: “ Điều mình không muốn thì đừng làm cho kẻ khác”. Làm người phải biết sửa mình “ Không nhìn cái không hợp Lễ, không nghe cái không hợp Lễ, không nói điều không hợp Lễ, không làm việc không hợp Lễ”. Với những cống hiến ấy, Khổng Tử được coi là nhà giáo dục lớn của Trung Quốc, được tôn làm “ Vạn thế sư biểu” Ở phương Tây, nhà triết học Socrat ( 470 – 399 TCN ) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức.

Đồng thời, ông cũng quan niệm, cái gốc của đạo đức là tính thiện. Muốn xác định được chuẩn mức đạo đức phải nhận thức lý tính với phương pháp khoa học. Aristoste ( 384 – 322 TCN ) cho rằng không phải hi vọng vào thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức. Ông xem đạo đức là cái cái thiện của cá nhân, còn chính trị là cái thiện của xã hội.

Thế kỷ XVII,Ịan Amos.Komenxki (1592-1670) – nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử” để giáo dục cho thanh thiếu niên. Ông đặc biệt quan tâm đến phương pháp làm gương và nêu gương trong giáo dục đạo đức cho học sinh. Ở thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học trên thế giới cũng đã đề cập và nghiên cứu về giáo dục đạo đức. Trong số đó nối bật là nhà giáo dục học và tâm lý học Liên Xô A.

Makarenco, ông nêu lên nguyên tắc giáo dục tập thể và thông qua tập thể. Trong tác phẩm “ Bài ca sư phạm’’ ông đặc biệt nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức. Theo quan niệm của học thuyết Mác – Lê Nin: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi tì ý thức cũng thay đổi theo, Do vậy, đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.

Các nghiên cứu trong nước. Ỏ Việt Nam cũng như các nước phương Đông khác, hàng nghìn năm trước đây đã xây dựng mô hình giáo dục theo truyền thống Nho giáo, coi trọng Lễ và Văn. Văn hiểu theo nghĩa rộng là kiến thức là văn chương cũng có nghĩa là tài năng. Lễ được hiểu theo nghĩa rộng là nghi thức, khuôn phép mà mọi người phải tuân theo trong hành vi ứng xử để thể hiện là con người có những phẩm chất cơ bản: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín có nghĩa là đạo đức.

Đạo đức và tài năng là hai yếu tố căn bản của nhân cách con người, trong đó cha ông ta coi trọng đạo đức, coi đạo đức là gốc rễ, “ Tiên học Lễ, Hậu học Văn” là xuất phát từ tư tưởng đó. Kế thừa và phát triển những tư tưởng về giáo dục của các bậc tiền nhân, Bác Hồ kính yêu của chúng ta cũng luôn đề cập đến vấn đề đạo đức. Bác viết: “ Cũng như sông phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.

Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[34;18] Theo tư tưởng của Người, đạo đức cách mạng giúp con người vượt mọi thử thách, không lùi bước trước khó khăn gian khổ. Bản thân Người chính là tấm gương sáng nhất về đạo đức cách mạng. Do đó cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động được đông đảo nhân dân ta hưởng ứng tham gia. Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được vai trò của GD đạo đức đối với sự nghiệp giáo dục nói riêng và sự phát triển bền vững của toàn xã hội nói chung.

Chính vì vậy, năm 1979 khi Bộ chính trị ra quyết định về cải cách giáo dục, Uỷ ban cải cách giáo dục đã có quyết định số 01 mở cuộc vận động: " Tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng trong các trường học" [19]. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở đầy năng động hiện nay đã tạo ra những định hướng giá trị xã hội mới, bên cạnh những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, những giá trị của con người trong thời đại mới cũng được hình thành. Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã xuất hiện một số nét tiêu cực ảnh hưởng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. Đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của một số tác giả về đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh: Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước và nêu lên 6 giải pháp cơ bản để giáo dục đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH: “ Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố ý tưởng giáo dục ở gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh, kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp của các cơ quan thi hành pháp luật.

Tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết là cán bộ đảng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viên, thầy cô giáo các trường học, xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho mọi người” [71; 12]. Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Trần Văn Tính - Vũ Phương Liên đã nghiên cứu giáo dục giá trị sống nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh THPT, đồng thời các tác giả đã viết cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” [17]. Đây là tài liệu bổ ích cho đội ngũ giáo viên THPT trong việc giáo dục đạo đức lối sống cho học sinh hiện nay và đã được rất nhiều trường THPT sử dụng. Qua một số nghiên cứu và thực tiễn giáo dục đạo đức trên đây cho thấy, giáo dục đạo đức học sinh THPT là công việc khó khăn, vất vả, phức tạp đòi hỏi phải có những biện pháp phù hợp, giáo dục đạo đức học sinh phổ thông là mối quan tâm không chỉ của những người làm công tác giáo dục mà còn là của toàn xã hội, nhất là trong tình hình xã hội ta hiện nay.

Khái niệm cơ bản của đề tài.Quản lý Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý. Tính chất của việc quản lý thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [24]. Nhà triết học V.

Afnatsev cho rằng, quản lý xã hội một cách khoa học là nhận thức, phát hiện các quy luật, các khuynh hướng vận động của xã hội và hướng sự vận động của xã hội cho phù hợp với các khuynh hướng đó; là phát hiện và giải quyết kịp thời các mâu thuẫn của sự phát triển; là duy trì sự thống nhất giữa chức năng và cơ cấu của hệ thống; là tiến hành một đường lối đúng đắn dựa trên cơ sở tính toán nghiêm túc những khả năng khách quan, mối tương quan giữa các lực lượng xã hội. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Frederick Winslow Taylor (1856-1915) là nhà thực hành quản lý khoa học về lao động đã đưa ra định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất [327; 8]. Henry Fayol (1841-1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” và sau này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Những cống hiến của ông về lý luận quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [327; 8].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ