Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS theo tiếp cận xã hội hóa. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Trần Hưng Đạo, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo tiếp cận xã hội hóa. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường THCS Trần Hưng Đạo, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo tiếp cận xã hội hóa. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIẾP CẬN XÃ HỘI HÓA 1.
Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Đạo đức là vấn đề được các nhà tư tưởng và triết học đề cập đến từ lâu, được xã hội mọi thời đại cả ở phương Tây lẫn phương Đông quan tâm và coi trọng. Trong sách Giáo dục học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1998) có chỉ rõ: Ở phương Tây, Nhà triết học Socrate (470 – 399 TCN) coi cái gốc của đạo đức là tính thiện, đạo đức và sự hiểu biết qui định nhau, tức là có đạo đức là nhờ sự hiểu biết và con người sau khi có hiểu biết mới trở thành đạo đức. Hoặc Aristoste (384 - 322 TCN) cho rằng thượng đế không áp đặt để có công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.
Vào thế kỷ XX, nhà sư phạm A. Macarenco của Liên Xô với tác phẩm “Bài ca sư phạm” đã đề cập đến vấn đề giáo dục công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình). Trong tác phẩm này ông đã nhấn mạnh đến vấn đề giáo dục đạo đức thông qua nhiều phương pháp như phương pháp nêu gương, giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể [27]. Hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều quan niệm rằng nội dung giáo dục đạo đức cần tập trung đào luyện những phẩm chất cơ bản của nhân cách như tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, tính trung thực,.
Trong Hội nghị khoa học “Đẩy mạnh giá trị nhân văn, đạo đức, văn hóa quốc tế” tổ chức tại Tokyo vào tháng 2 năm 1994 với sự tham gia của 12 nước trong khu vực, đã tổng kết kinh nghiệm và đưa ra mô hình giáo dục giá trị nhân văn, đạo 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đức, văn hóa quốc tế gồm 8 nhóm giá trị liên quan đến quyền con người, môi trường hòa bình, … Có thể thấy ở phương Đông lẫn phương Tây đều rất chú trọng đề cao vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức để hình thành và phát triển nhân cách của con người. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người., nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã đưa ra các mô hình quản lý giáo dục đạo đức phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn phát triển của đất nước. Công trình nghiên cứu khoa học của Phạm Minh Hạc và các cộng sự: “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (Phạm Minh Hạc (2002) [11], đã phần nào cụ thể hóa được mục tiêu giáo dục trong các nhà trường trong GD toàn diện cho học sinh. Đề tài mã số C 2006 -29 -05: “Một số giải pháp chỉ đạo của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học cơ sở thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Thanh Thủy đã nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường THCS Trung Hưng và một số trường THCS thuộc địa bàn thành phố Sơn Tây từ đó đề xuất một số giải pháp chỉ đạo thích hợp và khả thi về công tác giáo dục đạo đức học sinh ở trường Trung học cơ sở nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục của cấp trung học cơ sở và ngành giáo dục và đào tạo hiện nay.
Trong thời gian qua có nhiều luận án TS và luận văn thạc sỹ nghiên cứu về vấn đề đạo đức và quản lí GDĐĐ cho HS và SV. Một vài luận án có thể kể tên ra đây như: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận án tiến sĩ“Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới giáo dục hiện nay” của Đỗ Tuyết Bảo (2001). Luận án tiến sĩ: “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên các trường ĐHSP trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn Thị Hoàng Anh (2011). Đặc biệt 2017 ở học viện QLGD đã công bố luận văn TS của Nguyễn Thị Thi với tên đề tài “Quản lí GD đạo đức cho HS trường THCS thành phố Hà Nội Trong bối cảnh đổi mới GD”… và rất nhiều luận văn thạc sỹ về GD đạo đức và quản lí giáo dục đạo đức cho HS các cấp học khác nhau.
Các Luận án, luận văn đều đề cập đến khái niệm đạo đức; hoạt động GDĐĐ cho đối tượng học sinh, sinh viện ở các đơn vị GD trong hệ thống GD của Việt Nam và phân tích bối cảnh và các điều kiện tiến hành GD ĐĐ cũng như các biện pháp GDĐĐ và quản lí GDĐĐ. Tuy nhiên GDĐĐ và quản lí GDĐĐ cho từng đối tượng, từng địa bàn cũng có những nét đặc thù nên vấn đề quản lý GDĐĐ cho học sinh trường THCS Trần Hưng Đạo, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo tiếp cận xã hội hóa vẫn là một vấn đề có thể nghiên cứu để làm rõ các biện pháp quản lý phù hợp và có tính khả thi nhằm giúp nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh trường THCS Trần Hưng Đạo, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa theo tiếp cận xã hội hóa. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội và về khái niệm quản lí có nhiều tác giả trình bày dưới các góc nhìn khác nhau.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ coi quản lí là quá trình tác động để chuyển trạng thái [21]; Tác giả Đỗ Hoàng Toàn thì coi Quản lý là sự hoạt động có tổ chức, có hướng đích để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường [29]; Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì chỉ rõ: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [25]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những định nghĩa trên ta có thể nhận thấy, quản lý bao gồm các yếu tố và các điều kiện như sau: Quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm: Chủ thể quản lý (người quản lý), khách thể quản lý (đối tượng quản lý), là căn cứ để chủ thể quản lý tạo ra các tác động quản lý. Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu, có tổ chức, có tác động tương ứng, phù hợp nhằm hướng dẫn, điều khiển những đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý là một khoa học, là một nghệ thuật, nó tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý thực hiện hóa mục tiêu đã định và thỏa mãn của nhà quản lý.
Với hướng tiếp cận của đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm nêu trên làm công cụ nghiên cứu cho đề tài. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục Các nhà nghiên cứu về giáo dục và quản lý giáo dục như Phạm Minh Hạc; Đặng Quốc Bảo đã đưa ra nhiều định nghĩa với những góc nhìn. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [25].
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm quản lí GD như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt được mục tiêu giáo dục. Quản lý nhà trường Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý nhà trường.Kônzacôv nhấn mạnh Quản lý nhà trường là quản lý dạy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và học… tiến tới mục tiêu giáo dục” [26]. Theo tác giả Phạm Viết Vượng nhấn mạnh Quản lý trường học là tổ chức lao động của giáo viên, học sinh,…. trong nhà trường” [30].
Thực chất của quản lý nhà trường phổ thông là tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lí giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy - học và giáo dục tiến lên trạng thái mới về chất. Cho nên mục tiêu quản lý theo cách hiểu đó chính là mô hình tư duy của trạng thái sẽ đạt tới của nhà trường vào cuối mỗi năm học. Đạo đức Đạo đức là một phạm trù được rất nhiều lĩnh vực khoa học nghiên cứu như triết học, đạo đức học, giáo dục học, xã hội học, tâm lý học. Mỗi lĩnh vực có một cách tiếp cận riêng và kết quả đã tạo ra một hệ thống quan niệm đạo đức khá phong phú.
- Dưới góc độ triết học, người ta quan niệm rằng Đạo đức bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác với cộng đồng. xã hội; căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan hệ thiện và ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự.