Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC AN TOÀN GIAO THÔNG CHO HỌC SINH TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHỐI HỢP CÁC LỰC LƯỢNG GIÁO DỤC 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan 1. Nghiên cứu về giáo dục an toàn giao thông cho học sinh Nghiên cứu GD ý thức trách nhiệm cho HS nói chung, cho HS trong các trường TH nói riêng khi TG GT và bảo đảm ATGT đã được các nhà khoa học ở các nước và Việt Nam nghiên cứu dưới các góc độ, chuyên ngành khoa học cụ thể. Tác giả Blake đã ĐG hiệu quả của một chương trình Bikes, Blades and Boards (BB&B) trong việc dạy trẻ em về tầm quan trọng của đội mũ bảo hiểm; nhóm tác giả Hotz, G.
(2009) [50] dạy KN AT khi đi bộ cho trẻ em từ 5 đến 11 tuổi ở Mỹ (chương trình Walksafe) thông qua 03 nội dung do GV thực hiện trong ba ngày: một cuộc thảo luận lớp học 30 phút, một HĐ thực hành đường phố qua 30 phút và sau đó trẻ trả lời 10 câu hỏi trong 30 phút. Kết quả sau thực nghiệm, cho thấy trẻ em trong nhóm 5- 9 tuổi lại có điểm số đo về KN AT khi qua đường cao hơn so với nhóm trẻ 10- 11 tuổi, mặc dù điểm đầu vào thấp hơn (trước thực nghiệm). Tuy vậy, kết quả thực hiện bài KT sau 3 tháng lại chỉ ra sự thay đổi không đáng kể về kiến thức, đối với tất cả các nhóm tuổi. Rõ ràng rằng, KN đã không được hình thành một cách chắc chắn qua thực nghiệm này.
Bên cạnh đó Wilson.c (2003) [52] “ĐG các chương trình Delta DogSafe, có sử dụng hình ảnh và những con rối để kể những câu chuyện và hành vi AT cho 192 trẻ em từ 3-5 tuổi. Trong báo cáo thiết kế thực nghiệm trẻ em tiếp xúc với các chương trình có nhiều khả năng để nhận ra hình ảnh của hành vi nguy hiểm với đồ vật hơn trẻ chưa được tiếp xúc. Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở dạy trẻ nhận ra các tình huống nguy 7 hiểm chứ chưa đưa ra được cách xử lý tình huống nếu trẻ gặp phải tình huống nguy hiểm.” Tác giả Erika Takeuchi, Ai Terasaki (2018), đã viết cuốn sách về “Nuôi bé trai từ 0 đến 6 tuổi” [35]. Cuốn sách của tác giả đã nghiên cứu và rút ra được những kết luận quan trọng như: “trong sự phát triển của trẻ thơ là nam giới, như ngay từ khi sinh ra giữa trẻ em nam và trẻ em nữ đã có những đặc trưng khác nhau về não và hệ thần kinh vận động, dẫn đến cách GD trẻ em nam và nữ sẽ có những điểm khác nhau, nếu cha, mẹ trẻ và GV nắm được những đặc trưng khác nhau ấy sẽ nuôi day và phát triển các KN một cách toàn diện cho trẻ trong đó các KN phòng chống những TN thương tích khi trẻ TG sinh hoạt, học tập ở nhà và ở trường học.” Trong bài viết “Chất lượng GD ATGT và những tiêu chí ĐG” [41], tác giả Nguyễn Thu Thủy (2009) đã đưa ra các cách tiếp cận khái niệm chất lượng GD ATGT về các phương diện sư phạm và pháp lý.
Đồng thời cũng XD 5 tiêu chí cơ bản ĐG chất lượng GD ATGT là “nội dung GD ATGT; chủ thể thực hiện GD ATGT; hình thức PP GD ATGT; kết quả GD ATGT và các ĐK phục vụ cho công tác GD ATGT.” Qua tổng hợp chúng tôi thấy rằng các công trình nghiên cứu trên chỉ đi sâu vào đào tạo KN AT cho HS. Trong khi đó, GD cách xử lý những tình huống lại rất cần thiết vì chỉ như vậy HS mới có được KN phòng, tránh các TN GT có thể xảy ra, song chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ. Đây là vấn đề luận văn sẽ triển khai nghiên cứu để làm sáng tỏ, góp phần GD và nâng cao kiến thức về ATGT cho HS ở các NT hiện nay đạt hiệu quả thiết thực. Nghiên cứu về quản lý giáo dục an toàn giao thông cho học sinh Có thể nói, quản lí giáo dục an toàn giao thông cho học sinh là một mảng nghiên cứu chưa được đẩy mạnh ở Việt Nam, nhìn chung một số tác giả đã nghiên cứu và mang lại một số kết quả nhất định như sau: 8 Theo ước tính của Ngân hàng Phát triển Châu Á (WHO & UNICEF) thì “thiệt hại do TNGT Việt Nam hàng năm vào khoảng 885 triệu đô la Mỹ chưa kể đến nguồn lực khác của ngành y tế dành cho việc cứu chữa, phục hồi chức năng cho nạn nhân, gánh nặng về mặt tâm lý, XH và kinh tế cho các GĐ có người bị tàn tật, cho cộng đồng và XH” [53].
Đỗ Thị Thu Hằng (2017), với luận án tiến sĩ về “Quản lý hoạt động tham gia giáo dục ATGT cho học sinh” [17]. Quá trình nghiên cứu tác giả làm rõ khung lý luận về GD ATGT cho sinh viên; HĐ GD GD ATGT cho học sinh (khái niệm, hình thức, nội dung, các LL TG GD ATGT.) và QL HĐ TG GD ATGT cho học sinh (theo tiếp cận chức năng QL: “lập KH, tổ chức, chỉ đạo, KT việc thực hiện KH TG GD pháp luật); thực hiện khảo sát, ĐG thực trạng ở 5 trường trung học cơ sở xung quanh nội dung GD ATGT, QLGD ATGT cho sinh viên và chỉ rõ nguyên nhân ưu điểm, hạn chế, từ đó đề xuất các BP QL HĐ TG GD ATGT cho sinh viên, như: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác TG GD ATGT không chuyên luật đối với các cán bộ QL trong các trường học; XD chiến lược HĐ TG GD ATGT cho sinh viên; XD mô hình tổ chức QL HĐ TG GD ATGT cho học sinh; Đề xuất hệ thống tiêu chuẩn ĐG QL HĐ TG GD ATGT; Tăng cường các ĐK cho QL HĐ TG GD ATGT.” Đề tài luận văn “QLGD ATGT cho HS trường TH quận Hai Bà Trưng TP Hà Nội”, của Nguyễn Thị Lan Anh (2016), [1]. Trong luận văn, tác giả đã “nghiên cứu lý luận và phân tích ĐG thực trạng QL HĐ GD ATGT đường bộ trong các trường TH quận Hai Bà Trưng”, từ đó “đề xuất một số BP QL HĐ GD ATGT, nhằm nâng cao chất lượng GD ATGT các trường TH trong địa bàn quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội” [1]. Luận văn “QLGD ATGT cho HS trường TH quận Ngô Quyền TP Hải Phòng”, của tác giả Vũ Thị Thảo (2017), [38].
Quá trình nghiên cứu của tác giả đã đi sâu làm rõ cơ sở lý luận về QLGD ATGT cho HS trường TH; tiến hành khảo sát ĐG thực trạng GD ATGT và QLGD ATGT cho HS trường TH quận 9 Ngô Quyền TP Hải Phòng. Từ nghiên cứu lý luận, luận văn đã đưa ra 5 BP về việc QLGD ATGT cho HS thông qua việc ĐG thực trạng để GD ATGT cho HS các trường TH quận Ngô Quyền TP Hải Phòng. Tác giả Hà Mạnh Thắng (2019), với luận văn “QL HĐ GD ATGT cho HS các trường trung học cơ sở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai” [37]. Quá trình nghiên cứu, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về QL HĐ GD ATGT cho HS ở trường trung học cơ sở; ĐG thực tế HĐ GD ATGT và thực trạng QL HĐ GD ATGT cho HS ở các trường trung học cơ sở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Từ nghiên cứu lý luận, ĐG thực trạng, tác giả đã đề xuất được 06 BP QL HĐ GD ATGT cho HS ở các trường trung học cơ sở huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai, như: “Tăng cường, nâng cao nhận thức về GD ATGT cho HS ở trường trung học cơ sở đối với các LL GD trong NT; XD KH QL các HĐ GD ATGT cho HS ở trường trung học cơ sở; Tăng cường bồi dưỡng năng lực GD ATGT cho đội ngũ cán bộ cảnh sát GT, GV và cán bộ Đoàn Thanh niên trong tổ chức HĐ ATGT tại NT…” Tóm lại, qua tổng quan các công trình nghiên cứu về GD ATGT và QLGD ATGT cho HS, các nhà khoa học tiếp cận theo các góc độ chuyên ngành khoa học khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã chỉ rõ tầm quan trọng của HĐ GD ATGT và QLGD ATGT đối với mỗi cá nhân và HS sinh viên để giúp mọi người có kiến thức khi TG GT. Tuy nhiên, các công trình khoa học cũng làm rõ được vấn đề lý luận, thực trạng của từng vấn đề theo tiếp cận của chuyên ngành nghiên cứu. Song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về QLGD ATGT cho HS trường TH trên địa bàn TP Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh theo hướng PH các LL GD.
Do vậy, đây là khoảng trống để chúng tôi nghiên cứu đề tài luận văn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, Quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý là một chức năng lao động được hình thành và phát triển từ tính chất lao động của XH loài người.
Bàn về QL, các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra những cách giải thích về QL, như: 10 Nhóm tác giả Harold Koontz, Cyrinodonnell, HeinzWeihrich, cho rằng: “QL được xem là một tiến trình bao gồm các khâu, các bước như lập KH, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của các cá nhân, các bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [18]. Đại Từ điển tiếng Việt (nghĩa 2), giải thích: “QL là tổ chức và điều khiển các HĐ theo yêu cầu nhất định” [47, tr. Nguyễn Ngọc Quang, đưa ra khái niệm: “QL là tác động có mục đích, có KH của chủ thể QL đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể QL) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến trong quá trình QL” [30]. Tác giả Trần Kiểm, viết: “QL là PH nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của XH” [25].
Nhóm tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khẳng định: “QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr. Nghiên cứu các khái niệm QL của các nhà khoa học đã trình bày ở trên, trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi đưa ra khái niệm về QL như sau: QL là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể QL đến khách thể QL (đối tượng QL) nhằm khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của khách thể QL để đạt đến mục tiêu QL trong một môi trường luôn biến động.