CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN KHỐI NGÀNH CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT TẠI CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về đội ngũ giảng viên 1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong mọi thời đại, vai trò của người GV luôn được đánh giá cao. Không chỉ có Robert J.Marzano xác định GV là yếu tố tác động mạnh mẽ nhất đến thành tích học tập của người học [0099], Peter A.Hall và Alisa cũng đã khẳng định: trong giáo dục, năng lực của GV là sức mạnh quan trọng nhất, hay “GV được xem như là chìa khóa của chất lượng và sự thành công trong giáo dục ở bất kỳ hệ thống giáo dục của bất kỳ xã hội nào” [0096].
Chính vì vậy, nhiều tác giả đã nghiên cứu và đề xuất nhiều nội dung lý luận nhằm phát triển năng lực của GV, làm thế nào để người GV phát huy tốt nhất vai trò của mình đối với người học. Năm 2012, UNESCO và ILO với tác phẩm “Vị thế nhà giáo”, Ủy ban Quốc gia về các Tiêu chuẩn chuyên môn nhà giáo đã phát hành một bản yêu cầu mang tính nguyên tắc định hướng nghề nghiệp đầu tiên: Nhà giáo cần phải biết và có thể làm gì? (What teachers Should Know and Be Able to do?) Nhà giáo cần có những năng lực cốt lõi được hòa trộn đó là kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ và niềm tin [0087]. OsDonnel (1986) Modular Design in TAFE caurses, NSW, Sydnel. Raja Roy Singh, (1991), Education for the Twenty - first Century Asia - Pacific Perspectives, Unesco Principal egional office for Asiaand the Pacific Bangkok: GV cần phải biết và có thể làm gì với 5 vấn đề cốt lõi là: (1) GV phải tận tâm với học sinh và việc học; (2) GV phải làm chủ môn học, biết cách dạy môn học của mình và liên hệ với các bộ môn khác; (3) GV phải có trách nhiệm trong giảng dạy, quản lý kiểm tra, đánh giá việc học của học sinh; (4) GV phải thường xuyên suy nghĩ sáng tạo, phát triển kinh nghiệm nghề nghiệp; (5) GV phải là thành viên đáng tin cậy của cộng đồng học tập, biết cộng tác với đồng nghiệp, hợp tác với cha mẹ học sinh [0095].
Chất lượng GV là chủ đề được các nhà khoa học giáo dục ở các nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu, đến nay đã có nhiều công trình được công bố. Theo kết quả nghiên cứu của các thành viên OECD (Tổ chức Hợp tác Phát triển Châu 10 Âu) chất lượng GV gồm các nội dung sau: (1) Kiến thức phong phú về phạm vi chương trình và nội dung bộ môn mình giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm, kể cả việc có được “kho kiến thức” về phương pháp giảng dạy, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phản ánh trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê bình, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác; (5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp [0066]. Slullo đã cung cấp các thông tin làm thế nào để có thể trở thành một GV đầy cảm hứng; bàn về nhiều nội dung rất hữu ích như: Phẩm chất của một GV giỏi (niềm đam mê học tập, học tập suốt đời, lời nói đi đôi với việc làm), cách quản lý xung đột hay quản lý thời gian,. và bàn đến một số vấn đề khá thú vị như: “Thuyết lựa chọn” (Choice Theory) hay những nội dung liên quan đến việc “truyền cảm hứng cho sinh viên của bạn” “truyền cảm hứng nghề nghiệp cho đồng nghiệp” [0102] Trong “Cẩm nang thực hành nguồn nhân lực tốt trong nghề dạy học”, tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý nguồn nhân lực giáo dục ở các nước thành viên và đưa ra nhiều ví dụ, bài học kinh nghiệm có thể áp dụng đối với tất cả các trường học và hệ thống giáo dục, cũng như có thể điều chỉnh để thích ứng với sự khác biệt về nguồn lực sẵn có, về văn hóa, dân tộc, giới tính, chính trị,.
để quản lý đội ngũ giáo viên một cách hiệu quả như: tuyển dụng và việc làm của giáo viên dựa trên nguyên tắc cơ hội bình đẳng, không phân biệt đối xử và dựa trên khả năng chuyên môn; điều kiện làm việc, bao gồm cả quyền được nghỉ phép và phát triển sự nghiệp; vai trò và trách nhiệm nghề nghiệp của giáo viên; môi trường làm việc, thời gian và khối lượng công việc, quy mô lớp học, tỉ lệ học sinh - giáo viên; và các vấn đề về sức khỏe và an toàn; những yêu cầu của giáo viên về khen thưởng, tiền lương và các chính sách ưu đãi; các vấn đề an ninh xã hội; đối thoại xã hội và các quan hệ lao động trong nghề dạy học; những vấn đề liên quan đến đào tạo ban đầu, đào tạo nâng cao và bồi dưỡng đội ngũ. Khẳng định rằng, nghề dạy học là nghề quan trọng nhất và những nhà giáo dục phải là những người làm công việc hằng ngày của mình một cách đầy nhiệt huyết và hiệu quả; tinh thần làm việc của đội ngũ là hết sức quan trọng [0097].2 Những nghiên cứu ở trong nước Về việc lập kế hoạch bồi dưỡng GV, tác giả Ngô Minh Thực cho rằng, đây là một nội dung hết sức quan trọng trong quản lý bồi dưỡng GV ở trường CĐ hiện 11 nay. Kế hoạch giúp công tác quản lý có cái nhìn tổng thể, toàn diện, định hướng, bố trí, sắp xếp các hoạt động trong công tác bồi dưỡng GV. Mặt khác, công tác quản lý thông qua lập kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai.
Có thể nói, biện pháp lập kế hoạch bồi dưỡng GV là một trong những biện pháp hàng đầu, mang tính xương sống trong quản lý bồi dưỡng GV CĐ hiện nay. Tác giả đã trình bày và phân tích các bước trong việc lập kế hoạch bồi dưỡng GV CĐ trong giai đoạn đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay [0079]. Về vấn đề đổi mới nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho giáo viên dạy nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện, tác giả Vũ Xuân Hùng trình bày quan niệm về năng lực thực hiện; phân tích về nội dung của chương trình bồi dưỡng hiện hành và trên cở sở đó đề xuất đổi mới nội dung chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề. Nội dung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện được thiết kế, xây dựng thành 2 mô đun, tích hợp trọn vẹn kiến thức, kỹ năng, thái độ, bảo đảm hình thành và phát triển tốt nhất năng lực thực hiện cho người học [0039].
Trong bài viết “Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên trường cao đẳng nghề Cần Thơ” tác giả Đào Minh Mẫn đã đưa ra Khung năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên trường cao đẳng nghề gồm: năng lực chung (năng lực tư duy sáng tạo kĩ thuật; năng lực tư duy phản biện; năng lực giao tiếp, hợp tác và làm việc nhóm; năng lực thuyết trình) và năng lực chuyên biệt (năng lực phát hiện vấn đề NCKH; năng lực lựa chọn và sử dụng các phương pháp NC về NCKH; năng lực xây dựng đề cương NCKH; năng lực phân tích, chọn lọc tài liệu khoa học phục vụ NCKH; năng lực thiết kế bộ công cụ điều tra, khảo sát và xử lí số liệu; năng lực thiết kế/cải tiến sản phẩm NCKH; năng lực tổ chức thử nghiệm/thí nghiệm; năng lực viết báo cáo tổng kết đề tài NCKH; năng lực triển khai kết quả NC của đề tài NCKH). Qua đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ gồm: (i) Xây dựng tiêu chí đánh giá hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ; (ii) Định hướng tăng cường vai trò của quản lí khoa học và công nghệ trong phát triển hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ; (iii) Phát triển quan hệ hợp tác với các trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu trong hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên Trường Cao đẳng Nghề Cần Thơ [0049]. 12 Tác giả Ngô Thị Nhung trong bài viết về “Phát triển năng lực dạy học tích hợp DNHT cho giáo viên dạy nghề” đã nêu khái niệm và những yếu tố cơ bản của dạy học tích hợp (DHTH) trong đào tạo nghề qua đó xác định những năng lực DHTH của GV dạy nghề và đề xuất 02 biện pháp phát triển năng lực DHTH cho GV dạy nghề gồm đào tạo năng lực DHTH cho sinh viên sư phạm kỹ thuật (SPKT) tại các trường ĐHSPKT và bồi dưỡng năng lực DHTH cho ĐNGV dạy nghề tại các cơ sở dạy nghề [0051]. Trong bài viết “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường cao đẳng khu vực Tây Nguyên” tác giả Lữ Thị Hải Yến đã xác định những nội dung đào tạo, bồi dưỡng gồm: Trình độ chuyên môn; Kỹ năng nghiệp vụ sư phạm; Tiềm lực và phương pháp nghiên cứu khoa học; Ngoại ngữ; Tin học (Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học); Kiến thức lý luận chính trị; Kiến thức quản lý.
Qua đó tác giả đề xuất 03 giải pháp quản lý đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng cơ chế quản lý đội ngũ giảng viên cụ thể như sau: Thứ nhất, xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên một cách tổng thể nhằm giải quyết sự bức xúc về thiếu hụt giảng viên hiện tại, đảm bảo cho sự phát triển liên tục của đội ngũ giảng viên; Thứ hai, đổi mới cơ chế quản lý đội ngũ giảng viên; Thứ ba, tăng quyền chủ động cho các trường cao đẳng là xu hướng tất nhiên, phù hợp với sự vận động của nền kinh tế thị trường. Theo tác giả Trần Khánh Đức cấu trúc mô hình nhân cách nghề nghiệp của nhà giáo GDNN nói chung và GV cao đẳng nói riêng gồm có 04 thành tố gồm: (i) Xu hướng nghề nghiệp; (ii) Trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm nghề nghiệp; (iii) Đặc điểm tâm lý; (iv) Đặc điểm sinh học. Bốn thành tố này kết hợp với nhau, tạo nên những phẩm chất và năng lực nghề nghiệp của nhà giáo GDNN nói chung và GV cao đẳng nói riêng và giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại mật thiết.