Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC SỨC KHỎE SINH SẢN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong xã hội hiện đại, kinh tế - xã hội phát triển mạnh, với sự “nở rộ” của các loại văn hóa phẩm, mối quan hệ rộng mở, lối sống phóng khoáng, tuổi trưởng thành được “ trẻ hóa’’…khiến trẻ vị thành niên đứng trước nhiều nguy cơ, đặc biệt là việc mang thai ngoài ý muốn, bệnh lây truyền qua đường tình dục… thì hơn lúc nào hết chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) vị thành niên đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Công tác giáo dục SKSS không còn hạn chế bởi quốc gia nào mà đã trở thành vấn đề cần quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trên thế giới Năm 1994, hội nghị về dân số và phát triển ICPD (International Conference on Population Development) tại Cairo (Ai Cập) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong sự thay đổi chính sách dân số ở các quốc gia.
Tuyên ngôn của ICPD đã kêu gọi các nước đặt vai trò chất lượng dân số ưu tiên hàng đầu, trong đó có các vấn đề SKSS, đặc biệt là vấn đề SKSS vị thành niên. Từ đó, SKSS được định hướng chỉ đạo của hầu hết các nước, các chương trình dân số thế giới. ICPD đã thống nhất chương trình hành động về dân số và phát triển trong 20 năm tới, đề ra 15 nguyên tắc khẳng định con người là trung tâm đối với sự phát triển bền vững và đã cho ra đời một khái niệm mới về SKSS, GDSKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khoẻ, quá trình sinh sản và chất lượng cuộc sống. Sau hội nghị, hàng loạt các quốc gia trên thế giới lần lượt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSS, SKSS vị thành niên như: Hội nghị Thượng đỉnh phụ nữ quốc tế tại Bắc Kinh + 5 (1995), +10 (2000), +15 (2005), +20 (2010), Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague, Hà Lan (1999), Hội nghị dân số cấp cao uỷ ban kinh tế và xã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn hội Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) và Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFNPA) tại băng Cốc.
Cho đến nay, thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề dân số - SKSS. Các công trình liên quan đến nó đã được công bố rộng rãi, được nhiều nước đón nhận, sử dụng, tham khảo. Trong công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Nasit Sadik - giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã đưa ra một thông điệp rất tích cực về SKSS: “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biết SKSS rất quan trọng. Họ đều muốn xử sự một cách có trách nhiệm muốn bảo vệ sức khoẻ của chính mình và của cả người yêu và họ biết rằng đây là việc nên làm.
Phần lớn trong số họ khao khát tìm hiểu, họ muốn có thông tin về tình dục, tình yêu, sức khoẻ tình dục. Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ và người yêu không bị có thai ngoài ý muốn, tránh các bệnh LTQĐTD”. Công trình nghiên cứu của Bhakta B. Gubhajiu (2002) đã đề cập đến SKSS vị thành niên ở Châu Á.
Brown và đồng sự (2001) điều tra về hành vi tình dục của vị thành niên Châu Á [37]. Các nghiên cứu và quan điểm của các nhà Dân số học trình bày ở Hội nghị Dân số Châu Á Thái Bình Dương lần thứ V tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 2/2002 cho thấy các nhà dân số học chủ yếu đi sâu nghiên cứu khía cạnh nhân khẩu học, dịch vụ KHHGĐ, đồng thời bắt đầu quan tâm đến chính sách SKSS vị thành niên, coi vấn đề SKSS, SKSS vị thành niên là một bộ phận quan trọng hàng đầu của chính sách Dân số và Phát triển. Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề SKSS, coi đây là vấn đề có tính chiến lược quốc gia cần quan tâm và có quan điểm xem GDSKSS là vấn đề lành mạnh. Các chiến dịch dân số do Quỹ dân số Liên hiệp Quốc phát động đều ít nhiều liên quan đến những vấn đề đang “đe dọa” vị thành niên, như năm 2013 chủ đề của ngày dân số thế giới “ Mang thai ở tuổi vị thành niên” với thông điệp “Không mang thai ở tuổi vị thành niên vì sức khỏe Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn và tương lai của bạn”.
Do đó, đã có nhiều nước đưa giáo dục SKSS vào Nhà trường theo từng chủ đề tự chọn như Thuỵ Điển, Đức, Tiệp, Ba Lan. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời gian dài, vấn đề giáo dục SKSS cho lứa tuổi vị thành niên vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng phong kiến phương Đông, nên bị né tránh đề cập và nghiên cứu. Điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến dân số, chất lượng dân số và chất lượng cuộc sống nhân dân. Tuy vậy, phải khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước ta đã coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lược con người, đặc biệt chú trọng đến bảo vệ, CSSK bà mẹ trẻ em từ rất sớm.
Trong Nghị quyết số 176A ngày 24 tháng 12 năm 1984 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký đã nêu rõ “Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp, Tổng cục Dạy nghề phối hợp với các tổ chức có liên quan, xây dựng chương trình giảng dạy chính khoá và ngoại khóa nhằm bồi dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân và gia đình, về nuôi và dạy con” [8]. Do đó, vấn đề SKSS đã thu hút sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này được thể hiện dưới dạng các dự án, đề tài nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, tài liệu. Dự án “Hỗ trợ tăng cường sức khỏe sinh sản vị thành niên - VIE/97/P12” do Trung ương đoàn thanh niên chủ trì triển khai từ năm 1998 khẳng định “Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người.
Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về SKSS-VTN sẽ trưởng thành lên người lớn. Lại có một lớp VTN mới cần được thông tri giáo dục về SKSS - VTN, vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục SKSS -VTN cho vị thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liên tục”. Các đợt truyền thông rộng rãi được tổ chức nhằm tuyên truyền cho trẻ VTN về SKSS VTN, về các biện pháp tránh thai và quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn, phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dực, đặc biệt là HIV/AIDS, giúp cho VTN có nhận thức đúng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn và tự điều chỉnh hành vi của mình, góp phần hạ thấp tỷ lệ nạo phá thai và có con ngoài ý muốn trước 18 tuổi [25]. Đề án VIE/1998/P09, VIE/99/P09 với quy mô lớn, với sự tham gia của nhiều giáo sư, tiến sỹ, nhà khoa học, nhiều ngành, nhiều cấp đã tập trung nghiên cứu SKSS một cách có hệ thống về vấn đề dân số và SKSS.
Có thể kể đến một số dự án nghiên cứu sau: Các dự án thử nghiệm VIE/88/P10 (giáo dục dân số ở các trường phổ thông và sư phạm), VIE/88/P09 (giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính) và dự án nâng cao và hoàn chỉnh 2 dự án trên (VIE/94/P01) do Viện khoa học Giáo dục thực hiện, đã tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lý giáo dục và sinh học. Lần đầu tiên trong nhà trường phổ thông ở nước ta HS được học có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với người khác giới, bằng cách dạy tích hợp vào các môn học từ bậc tiểu học đến trung học với 5 chủ đề: Nhân khẩu học, môi trường, gia đình, giới và dinh dưỡng, trọng tâm là GDSKSS cho vị thành niên, coi đầu tư giải quyết vấn đề về SKSS vị thành niên là một yêu cầu quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Tuy nhiên, nội dung còn quá thiên về dân số phát triển, chưa coi SKSS như một mục tiêu ưu tiên trong chính sách quốc gia [20],[31]. Công trình nghiên cứu khoa học của Viện khoa học Giáo dục “Điều tra quan niệm về tình yêu, tình dục trong và ngoài hôn nhân, đời sống gia đình, KHHGĐ, giáo dục giới tính.
giai đoạn 1988 -1991”; Tìm hiểu “Vị thành niên và biện pháp tránh thai” của Viện Nghiên cứu thanh niên năm 1998; Bộ tài liệu huấn luyện về SKSS vị thành niên, SKSS vị thành niên - vấn đề cần quan tâm của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh năm 2000; cuốn tài liệu “Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về SKSS ” năm 2000 và bộ tài liệu tự học giành cho giáo viên “Giáo dục SKSS vị thành niên (GDSKSSVTN)” năm 2001, “SKSSVTN - những vấn đề cần quan tâm” giành cho cán bộ đoàn, “Trò chuyện giới tính, tình yêu.” năm 2009, “Tâm lý tuổi hoa” năm 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn giành cho cán bộ Hội LHPN Việt Nam. Các công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu nội dung chương trình giáo dục dân số mới cho HS phổ thông. Nội dung chương trình nhấn mạnh tới SKSS vị thành niên; xây dựng các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên. song vẫn chưa xây dựng được chương trình giáo dục SKSS phù hợp cho HS các trường THCS.
Nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề GDSKSS làm Luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, như: “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh các trường THPT các huyện miền núi Phú Thọ” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Hoàng Thị Lợi, năm 2000); “Các biện pháp giáo dục SKSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Thị Kim Hoa, năm 2003); Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Minh Ngọc với đề tài “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS” năm 2006; “Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh các trường THPT huyện Yên sơn, tỉnh Tuyên Quang” (Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của tác giả Lê Thị Hoa, năm 2014); “Quản lý giáo dục sức khỏe sinh sản cho sinh viên trường cao đẳng y tế Thái Nguyên, tỉnh Thái nguyên” (Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Lệ Ninh, năm 2014).