CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. DỰ TRỮ QUỐC GIA VÀ HÀNG DỰ TRỮ QUỐC GIA 1. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia 1. Khái niệm dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia (dự trữ nhà nước) là hoạt động cần thiết nhằm đảm bảo ổn định, an toàn đối với các lĩnh vực thuộc quốc kế dân sinh và một số lĩnh vực trọng yếu khác của một quốc gia.
“Dự trữ quốc gia, dự trữ của một nước do nhà nước nắm giữ và quản lý, bao gồm dự trữ các loại vật tư - hàng hóa quan trọng nhất; nhằm mục đích khắc phục những tổn thất do thiên tai, địch họa gây ra trên quy mô lớn trong một thời gian nhất định. Dự trữ quốc gia là nguồn tích lũy của quốc gia, sức mạnh của đất nước” (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2011, bachkhoatoanthu.vn) Hoạt động dự trữ quốc gia là việc xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự toán ngân sách về dự trữ quốc gia; xây dựng hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật; quản lý, điều hành và sử dụng dự trữ quốc gia. Hàng dự trữ quốc gia là vật tư, thiết bị, hàng hóa trong Danh mục hàng dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, nắm giữ để sử dụng vào mục tiêu dự trữ quốc gia. Danh mục hàng dự trữ quốc gia là tên nhóm hàng hóa, tên vật tư, tên thiết bị dự trữ quốc gia.
Điều hành dự trữ quốc gia bao gồm: hoạt động quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia. Bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia bao gồm bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trực tiếp quản lý hàng dự trữ quốc gia theo phân công của Chính phủ. Đơn vị dự trữ quốc gia là tổ chức thuộc bộ, ngành quản lý hàng dự trữ quốc gia được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý, nhập, xuất, mua, bán, bảo quản, bảo vệ hàng dự trữ quốc gia. Luan van 5 Tình huống đột xuất, cấp bách là tình trạng thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh có nguy cơ bùng phát trên diện rộng; nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; trật tự an toàn xã hội cần được giải quyết ngay.
Tổng mức dự trữ quốc gia là tổng giá trị dự trữ quốc gia. Mức phân bổ cho dự trữ quốc gia là số tiền bố trí cho dự trữ quốc gia trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm. Thời hạn lưu kho hàng dự trữ quốc gia là khoảng thời gian tối đa được xác định từ thời điểm nhập kho đến thời điểm xuất kho hàng dự trữ quốc gia. Xuất cấp hàng dự trữ quốc gia là việc xuất hàng dự trữ quốc gia không thu tiền để cấp cho các tổ chức, cá nhân” (Luật dự trữ, Quốc hội, 2012, trang 2).
Như vậy, Dự trữ quốc gia là quá trình Nhà nước tổ chức tích luỹ một bộ phận của cải vật chất xã hội vào quỹ dự phòng chiến lược để sử dụng vào việc phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai; đáp ứng nhu cầu của quốc phòng và giữ vững an ninh chính trị khi xảy ra biến động; góp phần ổn định chính trị, kinh tế và đời sống dân cư cũng như các nhiệm vụ khác của Nhà nước. Tuy nhiên dự trữ quá lớn cũng hạn chế vốn đầu tư vào phát triển kinh tế, vấn đề quan trọng là kết hợp chặt chẽ yêu cầu đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội, an ninh quốc gia với mục tiêu phát triển. Những đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia Dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất của nhà nước, được nhà nước quản lý, sử dụng nhằm thực hiện mục tiêu của nhà nước Quỹ dự trữ quốc gia được hình thành từ nguồn NSNN và các nguồn khác với mục đích đảm bảo lợi ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội. Nhà nước hình thành, sử dụng dự trữ quốc gia nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu đột xuất, cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh; phục vụ quốc phòng, an ninh.
Việc quản lý, điều hành và sử dụng quỹ dự trữ quốc gia phải được quản lý chặt chẽ và chỉ đạo tập trung thống nhất dưới quyền quyết định của nhà nước. Hàng dự trữ quốc gia được quản lý bởi hệ thống bộ máy dự trữ nhà nước với hệ thống kho tàng, cơ chế quản lý, chế độ hạch toán, kế toán riêng biệt của dự trữ nhà nước. Luan van 6 Một quốc gia, một xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu đảm bảo an toàn, ổn định ngày càng cao, do đó, dự trữ quốc gia ngày càng quan trọng, quỹ dự trữ quốc gia phải được tích lũy phù hợp. Hoạt động của dự trữ quốc gia không vì lợi nhuận.
Đây là đặc trưng cơ bản của dự trữ quốc gia. Khác với loại hình kinh tế khác, dự trữ quốc gia là ngành kinh tế đặc biệt, không thuộc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, không nhằm tạo ra lợi nhuận. Mục tiêu của dự trữ quốc gia nhằm đảm bảo cho lợi ích, an toàn của cả quốc gia, của toàn xã hội. Khác với dự trữ quốc gia, các loại quỹ dự trữ khác như dự trữ sản xuất kinh doanh, quỹ dự trữ hàng hóa tồn tại nhằm mục đích đảm bảo cho qua trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa của các tổ cức kinh tế liên tục và ổn định nhằm tối đa hóa năng lực sản xuất kinh doanh, đảm bảo lợi nhuận của tổ chức kinh tế.
Dự trữ quốc gia, do nhà nước quản lý nhằm ổn định cả nền kinh tế. Dự trữ quốc gia là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước nhằm khắc phục những khiếm khuyết của kinh tế thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện an sinh xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn cho đời sống của người dân. Nguồn lực dự trữ không mang lại lợi nhuận cho nhà nước với tư cách là chủ sở hữu, sử dụng nguồn lực dự trữ. Như vậy, dự trữ quốc gia là nguồn lực vật chất do nhà nước quản lý và sử dụng không vì mục đích lợi nhuận.
Hiệu quả của dự trữ quốc gia mang lại có tính chất tổng hợp, hiệu quả kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đó là lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội. Quỹ dự trữ quốc gia không tự bảo toàn vốn Các quỹ dự trữ của các tổ chức kinh tế hoạt động trên cơ sở, nguyên tắc bảo toàn vốn do xuất phát từ mục tiêu tồn tại và hoạt động của nó, đó là đảm bảo cho quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi hàng hóa được diễn ra liên tục và ổn định, duy trì và tăng năng lực sản xuất kinh doanh. Quỹ dự trữ được sử dụng nhằm hỗ trợ, thúc đẩy, khắc phục khó khăn cho tổ chức kinh tế trong một thời điểm, sau đó phải được thu hồi nhằm duy trì quy mô của quỹ. Nguồn lực của các quỹ không chỉ được quy trì, bảo toàn mà còn tạo ra lợi nhuận và sẽ được thu hồi trở lại khi quá trình sản xuất kinh doanh đi vào ổn định.
Luan van 7 Ngược lại, quỹ dự trữ quốc gia được sử dụng nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, bảo đảm an ninh, quốc phòng, tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thực hiện các nhiệm vụ đột xuất bức thiết khác của nhà nước. Việc xuất bán hay xuất cấp không thu tiền để đảm bảo lợi ích chung của toàn xã hội, không tính đến lợi ích kinh tế hay thua lỗ nên không có khả năng tự bảo toàn vốn. Quy mô quỹ dự trữ quốc gia ngày càng tăng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Do đó, để thực hiện được mục tiêu của mình, hàng năm, Nhà nước phải cấp ngân sách bổ sung cho quỹ dự trữ quốc gia nhằm: - Bổ sung lượng hàng dự trữ quốc gia đã xuất kho trong năm trước để cứu trợ, hỗ trợ, viện trợ; - Bổ sung hao hụt do hàng dự trữ đã qua quá trình lưu kho, bảo quản, số lượng, chất lượng và giá trị bị suy giảm.
Do đó, số tiền thu được từ việc xuất bán luân phiên đổi hàng sẽ không đủ kinh phí để mua hàng mới đưa vào dự trữ trong năm sau; - Bổ sung lượng hàng hóa dự trữ quốc gia đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Mục tiêu và vai trò của dự trữ quốc gia đối với phát triển kinh tế xã hội. Mục tiêu của dự trữ quốc gia - Mục tiêu tổng quát Sẵn sàng đáp ứng yêu cầu cấp bách về phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh; phục vụ động viên công nghiệp; đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tham gia bình ổn thị trường, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và thực hiện các nhiệm vụ cấp bách khác. - Mục tiêu cụ thể: + Danh mục, số lượng hàng dự trữ quốc gia đảm bảo yêu cầu thiết yếu, chiến lược, quan trọng và có quy mô đủ mạnh để can thiệp khi có tình huống cấp bách.
+ Hiện đại hóa công nghệ bảo quản, nghiên cứu, chuyển giao, áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến của các nước trong khu vực, phù hợp với điều kiện khí hậu Luan van 8 và kinh tế - xã hội của Việt Nam nhằm bảo đảm chất lượng hàng dự trữ quốc gia và nâng cao hiệu quả công tác bảo quản. + Hoàn chỉnh hệ thống kho dự trữ quốc gia với trang thiết bị hiện đại, quy mô tập trung, đảm bảo hình thành các vùng, tuyến chiến lược phù hợp với điều kiện về kinh tế, quốc phòng của vùng, lãnh thổ. + Hệ thống thông tin thông suốt trong hoạt động dự trữ quốc gia, bảo đảm tin học hóa 100% quy trình quản lý nghiệp vụ nhập, xuất, bảo quản. + Phát triển nguồn nhân lực dự trữ quốc gia bảo đảm đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý theo hướng tập trung thống nhất một cơ quan quản lý nhà nước về dự trữ quốc gia.