Tổng quan nghiên cứu
Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là một trong những trung tâm du lịch biển trọng điểm của Việt Nam, nơi hai thị trường khách quốc tế chủ lực là Trung Quốc và Nga chiếm tới 70% tổng lượt khách lưu trú quốc tế. Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động lữ hành kéo theo nhu cầu cấp thiết về việc kiện toàn nguồn nhân lực, trong đó hướng dẫn viên du lịch đóng vai trò là nhân tố then chốt cấu thành chất lượng sản phẩm du lịch. Theo thống kê của ngành, Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa đã cấp tổng cộng 979 thẻ hành nghề hướng dẫn viên, bao gồm 601 thẻ quốc tế và 378 thẻ nội địa. Tuy nhiên, thị trường du lịch ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng của lực lượng hướng dẫn viên du lịch tự do do các doanh nghiệp lữ hành có xu hướng chuyển từ sử dụng nhân sự cơ hữu sang hợp đồng cộng tác viên nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành.
Mô hình hoạt động tự do mang lại sự linh hoạt cho doanh nghiệp nhưng đồng thời tạo ra nhiều lỗ hổng lớn trong công tác quản lý nhà nước: thiếu hụt công cụ kiểm soát chất lượng thuyết minh, gia tăng nguy cơ biến tướng như tình trạng hướng dẫn viên ngoại quốc mượn danh nghĩa lao động bản địa và sự thiếu hụt các chính sách bảo vệ quyền lợi người lao động. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa khung lý luận, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tự do tại Nha Trang trong giai đoạn 2015-2019, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2025. Nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao mức độ hài lòng của du khách, bảo vệ quyền lợi cho hơn 300 hướng dẫn viên tự do được khảo sát và chuẩn hóa môi trường kinh doanh dịch vụ lữ hành tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng khung lý thuyết vai trò của hướng dẫn viên du lịch được phát triển bởi Erik Cohen (1985) và các công trình nghiên cứu của Armstrong cùng Weiler (2002), khẳng định hướng dẫn viên không chỉ là người cung cấp dịch vụ đơn thuần mà còn là đại sứ văn hóa, người diễn giải di sản và điều phối trải nghiệm của du khách. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS) và khung chuẩn năng lực nghề nghiệp 4 chữ "N" gồm: Nghiệp vụ, Ngoại ngữ, Ngoại giao và Ngoại hình.
Khung nghiên cứu làm rõ 3 khái niệm trọng tâm:
- Hướng dẫn viên du lịch theo quy định của Luật Du lịch 2017.
- Hướng dẫn viên du lịch tự do với bản chất là lao động tự do, thực hiện nhiệm vụ theo từng chương trình du lịch thỏa thuận mà không hưởng lương cố định từ quỹ lương doanh nghiệp.
- Quản lý nhà nước về dịch vụ hướng dẫn du lịch, bao gồm việc quản lý tư cách pháp nhân, thanh tra hoạt động chuyên môn và xử lý vi phạm hành chính.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai thông qua việc kết hợp các phương pháp định tính và định lượng trên dữ liệu thực tế thu thập từ năm 2015 đến năm 2019. Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra xã hội học với cỡ mẫu là 310 hướng dẫn viên du lịch tự do đang trực tiếp hành nghề tại các khu, điểm tham quan và doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn thành phố Nha Trang. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện, phân chia theo nhóm thẻ quốc tế, thẻ nội địa và các ngoại ngữ chính. Bên cạnh đó, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu 15 chuyên gia quản lý đầu ngành và giám đốc doanh nghiệp lữ hành.
Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo thường niên giai đoạn 2016-2018 của Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa, cùng dữ liệu tổng quan ngành với 10.985 doanh nghiệp lữ hành quốc tế trên toàn quốc. Dữ liệu được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Excel thông qua các kỹ thuật thống kê mô tả, phân tích so sánh và tổng hợp đối chiếu. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ phân bổ thẻ nghề, đo lường tỷ lệ tuân thủ quy chế chuyên môn và làm sáng tỏ mối tương quan giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp với chất lượng phục vụ thực tế của hướng dẫn viên.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, cơ cấu đội ngũ hướng dẫn viên tại thành phố Nha Trang có sự chênh lệch lớn giữa các thị trường ngôn ngữ. Trong tổng số 979 thẻ được cấp phép chính thức, thẻ quốc tế chiếm ưu thế với 601 thẻ (tương đương 61,4%), trong khi thẻ nội địa chỉ chiếm 378 thẻ (tương đương 38,6%). Dù số lượng thẻ quốc tế cao, địa phương vẫn đối mặt với tình trạng khan hiếm nghiêm trọng hướng dẫn viên chất lượng cao ở các thị trường trọng điểm như Nga và Trung Quốc, vốn chiếm tới 70% tổng thị phần khách quốc tế đến tỉnh.
Thứ hai, kết quả khảo sát 310 hướng dẫn viên tự do chỉ ra rằng khoảng 68% doanh nghiệp lữ hành ưu tiên sử dụng cộng tác viên thời vụ để cắt giảm từ 20% đến 25% chi phí quản lý, bảo hiểm xã hội và phúc lợi dài hạn. Điều này dẫn đến tình trạng hơn 65% lao động tự do không có sự bảo đảm về an sinh xã hội và dễ dàng dịch chuyển công việc.
Thứ ba, sự gắn kết giữa hướng dẫn viên tự do với các tổ chức nghề nghiệp còn rất thấp. Thống kê từ 310 phiếu khảo sát cho thấy chỉ có 35,5% hướng dẫn viên tham gia sinh hoạt tại Câu lạc bộ hướng dẫn viên du lịch thuộc Hiệp hội Du lịch, trong khi 64,5% còn lại hoạt động hoàn toàn độc lập, gây khó khăn cho việc phổ biến quy chế pháp luật mới.
Thứ tư, công tác thanh tra phát hiện các hành vi tiêu cực phức tạp, nổi bật là hiện tượng "hướng dẫn viên bình phong". Một số công ty lữ hành thuê hướng dẫn viên Việt Nam có thẻ với mức thù lao tượng trưng từ 300.000 đến 500.000 đồng mỗi ngày chỉ để ngồi trên xe đối phó khi có kiểm tra, trong khi việc thuyết minh thực tế do người nước ngoài không đủ điều kiện hành nghề thực hiện.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ áp lực cạnh tranh gay gắt của các tour du lịch giá rẻ và sự tăng trưởng nóng của lượng khách quốc tế. So sánh với các nghiên cứu của Bùi Trọng Nhân và Phan Huỳnh Anh Khoa (2015), thị trường lao động du lịch tại Nha Trang phản ánh rõ nghịch lý "vừa thừa vừa thiếu": thừa nhân lực phổ thông nhưng thiếu hụt trầm trọng nhân lực tinh hoa thông thạo ngoại ngữ hiếm và am hiểu sâu sắc văn hóa bản địa.
Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua hai dạng thức trình bày:
- Biểu đồ cột thể hiện sự tương quan giữa cơ cấu ngôn ngữ thẻ hướng dẫn viên được cấp với cơ cấu thị trường khách quốc tế thực tế tại Nha Trang.
- Bảng ma trận đối chiếu mức độ tham gia câu lạc bộ nghề nghiệp với tỷ lệ vi phạm quy chế chuyên môn của 310 nhân sự khảo sát.
Ý nghĩa học thuật và thực tiễn của phát hiện này khẳng định rằng mô hình quản lý hiện tại còn mang tính thụ động, chủ yếu tập trung vào khâu cấp phép hành chính thay vì giám sát chuỗi hành vi thực địa của doanh nghiệp và người lao động.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tự do tại thành phố Nha Trang giai đoạn đến năm 2025, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:
Thứ nhất, số hóa và kết nối liên thông 100% cơ sở dữ liệu hồ sơ hướng dẫn viên. Sở Du lịch tỉnh Khánh Hòa cần hoàn thành xây dựng hệ thống phần mềm quản lý điện tử đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia trong giai đoạn 2020-2022. Hệ thống cho phép kiểm tra thông tin pháp lý của hơn 900 hướng dẫn viên đang hành nghề chỉ trong 30 giây thông qua mã QR trên thẻ.
Thứ hai, chuẩn hóa chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ theo chuẩn VTOS. Hiệp hội Du lịch Khánh Hòa chủ trì phối hợp cùng các cơ sở đào tạo tổ chức định kỳ tối thiểu 4 khóa cập nhật kiến thức mỗi năm, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hướng dẫn viên tự do được chuẩn hóa kỹ năng thuyết minh và xử lý khủng hoảng đạt trên 85% trước năm 2024.
Thứ ba, tăng cường thanh tra liên ngành nhằm xử lý dứt điểm các sai phạm thực địa. Thanh tra Sở Du lịch phối hợp cùng Công an tỉnh triển khai tối thiểu 24 đợt kiểm tra đột xuất mỗi năm tại các điểm tham quan trọng yếu như Tháp Bà Ponagar, Hòn Chồng và bến tàu du lịch, phấn đấu ngăn chặn 100% tình trạng hướng dẫn viên nước ngoài hoạt động trái phép và hiện tượng "hướng dẫn viên bình phong".
Thứ tư, thiết lập khung hợp đồng dịch vụ chuẩn và quy định mức thù lao sàn. Cơ quan quản lý cần ban hành mẫu hợp đồng cộng tác bắt buộc giữa công ty lữ hành và hướng dẫn viên tự do, quy định mức thù lao sàn tối thiểu từ 800.000 đồng mỗi ngày, kèm theo điều khoản bắt buộc về bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp cho 100% chuyến đi.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu đem lại giá trị thực chứng và khả năng ứng dụng thực tế cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch như Sở Du lịch Khánh Hòa và các cơ quan quản lý tại các địa phương có bối cảnh tương đồng như Đà Nẵng, Quảng Ninh. Dữ liệu khảo sát từ 310 hướng dẫn viên cung cấp căn cứ xác thực để điều chỉnh quy trình quản lý hồ sơ trực tuyến, xây dựng cơ chế giám sát liên ngành và hoạch định quy hoạch nhân lực du lịch giai đoạn 2020-2025.
Thứ hai, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành quốc tế và nội địa. Các nhà điều hành tour có thể ứng dụng mô hình quản trị cộng tác viên để duy trì tỷ trọng sử dụng lao động tự do từ 60% đến 70% một cách hiệu quả, đồng thời chuẩn hóa quy trình pháp lý nhằm hạn chế tối đa rủi ro vi phạm hành chính.
Thứ ba, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch tự do và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp như Chi hội Hướng dẫn viên du lịch. Luận văn cung cấp khung tham chiếu chuẩn 4N giúp hơn 600 hướng dẫn viên tự do tại địa phương tự đánh giá năng lực, nâng cao đạo đức nghề nghiệp và tích cực gia nhập các tổ chức hội nghề nghiệp chính quy.
Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Du lịch học, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị với hệ thống 4 bảng thống kê chuyên sâu và 2 sơ đồ quy trình nghiệp vụ về quản trị nhân lực du lịch tại địa bàn kinh tế biển.
Câu hỏi thường gặp
-
Hướng dẫn viên du lịch tự do khác hướng dẫn viên cơ hữu ở những điểm nào?
Hướng dẫn viên cơ hữu là nhân sự ký hợp đồng lao động dài hạn, nhận lương cứng hàng tháng và được doanh nghiệp đóng đầy đủ các loại bảo hiểm theo Luật Lao động. Ngược lại, hướng dẫn viên tự do hoạt động dưới hình thức cộng tác viên, nhận thù lao thỏa thuận theo từng tour ngắn hạn từ 1 đến 5 ngày và không chịu sự quản lý biên chế của một doanh nghiệp duy nhất. -
Tỷ lệ phân bổ thẻ hướng dẫn viên du lịch tại Khánh Hòa có đặc điểm gì nổi bật?
Theo số liệu của Sở Du lịch Khánh Hòa, toàn tỉnh có 979 thẻ hành nghề, trong đó thẻ quốc tế chiếm 61,4% (601 thẻ) và thẻ nội địa chiếm 38,6% (378 thẻ). Tỷ trọng thẻ quốc tế vượt trội phản ánh đặc thù Nha Trang là trung tâm đón khách quốc tế, với 70% lượng khách tập trung ở hai thị trường Nga và Trung Quốc. -
Hiện tượng "hướng dẫn viên bình phong" (sitting guide) phát sinh do nguyên nhân nào?
Hiện tượng này nảy sinh khi các doanh nghiệp tổ chức tour giá rẻ thiếu hụt hướng dẫn viên tiếng hiếm hợp pháp. Doanh nghiệp chi trả thù lao tượng trưng khoảng 300.000 đến 500.000 đồng mỗi ngày cho hướng dẫn viên Việt Nam có thẻ để đối phó với đoàn thanh tra, trong khi người nước ngoài trực tiếp thuyết minh trái phép. -
Tiêu chuẩn 4 chữ "N" đối với hướng dẫn viên du lịch bao gồm những nội dung gì?
Tiêu chuẩn 4N là bộ tiêu chí năng lực cốt lõi gồm: Nghiệp vụ (kỹ năng dẫn tour, xử lý tình huống), Ngoại ngữ (thông thạo ít nhất 1 ngoại ngữ đối với thẻ quốc tế), Ngoại giao (nghệ thuật giao tiếp, thuyết phục du khách) và Ngoại hình (tác phong lịch thiệp, thể lực dẻo dai làm việc liên tục 24/24 giờ). -
Vì sao các doanh nghiệp lữ hành có xu hướng chuộng thuê hướng dẫn viên tự do?
Việc thuê cộng tác viên tự do giúp doanh nghiệp lữ hành cắt giảm ngay từ 20% đến 25% chi phí nhân sự cố định hàng tháng như bảo hiểm xã hội và trợ cấp. Hình thức này giúp doanh nghiệp linh hoạt điều tiết nhân lực theo mùa cao điểm nhưng lại đặt ra thách thức lớn trong việc kiểm soát tính đồng bộ của chất lượng dịch vụ.
Kết luận
- Luận văn đã hoàn thiện việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hướng dẫn viên du lịch tự do, chuẩn hóa bộ tiêu chí năng lực 4 chữ "N" gắn liền với Tiêu chuẩn Kỹ năng nghề Du lịch Việt Nam (VTOS) và Luật Du lịch 2017.
- Khảo sát thực chứng 310 hướng dẫn viên tự do tại Nha Trang, làm rõ cơ cấu với 601 thẻ quốc tế và 378 thẻ nội địa, đồng thời chỉ ra thực trạng chỉ có 35,5% nhân sự tham gia các câu lạc bộ nghề nghiệp chính thống.
- Phân tích sâu sắc 4 thách thức lớn của thị trường: mất cân đối nguồn nhân lực tiếng hiếm khi khách Nga và Trung Quốc chiếm tới 70%, xu hướng né tránh hợp đồng dài hạn để cắt giảm 20%-25% chi phí, sự buông lỏng quản lý trung gian và hiện tượng "hướng dẫn viên bình phong".
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao: số hóa 100% dữ liệu quản lý, tổ chức 4 khóa bồi dưỡng VTOS mỗi năm, thực hiện tối thiểu 24 đợt thanh tra thực địa và ban hành khung thù lao sàn từ 800.000 đồng mỗi ngày.
- Định hình lộ trình thực hiện 2 giai đoạn: tập trung số hóa dữ liệu và hoàn thiện khung pháp lý (2020-2022), hướng tới chuẩn hóa toàn diện 100% chất lượng đội ngũ hướng dẫn viên du lịch đến năm 2025.
Để xây dựng thương hiệu du lịch Nha Trang - Khánh Hòa trở thành điểm đến văn minh, an toàn và đẳng cấp quốc tế, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp lữ hành cần nhanh chóng chung tay triển khai đồng bộ các kiến nghị khoa học nêu trên vào thực tiễn quản lý ngay hôm nay.