phần mở đầu, kết luận, được kết cấu thành IV chương : Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự hài lòng của du khách đối với dịch vụ du lịch; Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 4 Chƣơng 3: Thực trạng sự hài lòng của du khách tại khu du lich Tam Đảo hiện nay; Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao sự hài lòng của du khách đến tại khu du lịch Tam Đảo. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA DU KHÁCH ĐỐI VỚI DỊCH VỤ DU LỊCH 1. Du lịch và dịch vụ du lịch 1.
Khái niệm về du lịch Hiện tại có rất nhiều quan điểm khác nhau về du lịch, dưới đây tác giả xin trình bày một vài quan điểm khác nhau về du lịch. Thứ nhất, theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức( International Union of Official Travel Oragnization: IUOTO): du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với điạ điểm cư trú thường xuyên cuả mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống. Thứ hai, hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma _ Italia ( 21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghiã về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú cuả cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên cuả họ hay Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc cuả họ.
Theo quan điểm của các nhà kinh tế hiện đại thì khái niệm du lịch được hiểu như sau: : Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghĩ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Trong luận văn này, tác giả xem xét quan điểm du lịch dưới góc độ kinh tế. Cũng xuất phát từ quan điểm kinh tế, khái niệm nhu cầu du lịch được hiểu là mong muốn của con người đi đến một nơi khác với nơi ở của mình để có cảm xuất mới, trải nghiệm mới, để phát triển các mối quan hệ xã hội, phục hồi sức khỏe, tạo sự thoải mái dễ chịu về tinh thần. Đặc điểm của hoạt động du lịch - Hoạt động du lịch là một hoạt động mang tính tổng hợp có nội dung rất đa dạng và phức tạp.
Hoạt động của các doanh nghiệp được tổ chức liên kết một cách khoa học tạo nên sản phẩm du lịch. - Hoạt động đóng vai trò tổ chức môi giới trong hoạt động du lịch- hoạt động lữ hành. Hoạt động lữ hành có vai trò như người tổ chức hoạt động du lịch bao gồm nhiều hoạt động khác nhau. Chuyên viên marketing có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, thiết lập mối quan hệ với các hãng lữ hành của một thị trường du lịch khác (thị trường gởi khách và thị trường đón khách) thu thập những loại thông tin khác nhau.
Xử lý các loại thông tin đã có, thiết kế sản phẩm (các tour du lịch). Tổ chức bán sản phẩm , tổ chức thực hiện cac tour du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của du khách. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 - Chương trình du lịch là một tour du lịch trọn gói, là một hành trình du lịch khép kín, quy định ngày bắt đầu, ngày kết thúc,nơi bắt đầu và địa điểm kết thúc của tour, quy định cụ thể chất lượng các dịch vụ kèm theoquy định địa điểm tham quan, địa điểm và thời gian lưu trú, ăn uống… Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt, nó không phải là một sản phẩm lao động cụ thể biểu hiện dưới hình thái vật chất mà là sản phẩm vô hình biểu hiện bằng nhiều loại dịch vụ. Nói một cách tổng quát, sản phẩm du lịch có những đặc trưng sau: + Tính vô hình: Khác với sản phẩm vật chất, các dịch vụ không thể nhìn thấy, nếm, ngửi, cảm giác hay nghe thấy được trước khi mua.
Trước khi lên máy bay hay xe hơi, hành khách không có gì cả ngoại trừ một vé máy bay và một lời hứa hẹn đảm bảo về chất lượng sản phẩm nơi đến du lịch. Những nhân viên của lực lượng bán sản phẩm ở khách sạn không thể mang một phòng ngủ để bán cho khách qua những cuộc gọi bán hàng. Thực tế họ không thể bán phòng mà chỉ bán quyền sử dụng phòng trong khoảng thời gian nhất định. + Do tính vô hình của dịch vụ, và sản phẩm du lịch thường ở quá xa khách hàng nên người mua phải mất một khoảng thời gian khá dài kể từ ngày mua sản phẩm cho đến khi sử dụng.
Khi mua sản phẩm khách hàng chỉ biết qua thông tin và một vài hình ảnh của một phần sảnphẩm mà chính những hình ảnh này chỉ phản ảnh một phần đặt tính của sản phẩm. + Tính bất khả phân: Hầu hết các dịch vụ về khách sạn, nhà hàng, cả người cung cấp dịch vụ và khách hàng không thể tách rời. Khách hàng tiếp xúc với nhân viên là một phần quan trọng của sản phẩm. Thực phẩm trong nhà hàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 có thể không hoàn hảo, nhưng người phục vụ thiếu sự ân cần, hời hợt hay cung cấp dịch vụ thiếu chu đáo, khách hàng sẽ đánh giá thấp về kinh nghiệm của nhà hàng.
Với tính bất khả phân cho thấy sự tác động qua lại giữa người cung cấp và khách hàng tạo nên sự tiêu thụ dịch vụ. +Tính khả biến: Dịch vụ rất dễ thay đổi, chất lượng của sản phẩm tùy thuộc phần lớn vào người cung cấp và khi nào,ở đâu chúng được cung cấp. Có nhiều nguyên nhân: Dịch vụ được cung cấp và tiêu thụ cùng lúc nên giới hạn việc kiểm tra chất lượng sản phẩm. Sự dao động về nhu cầu tạo nên khó khăn cho việc cung cấp chất lượng đồng nhất trong thời gian có nhu cầu cao điểm.
Chất lượng sản phẩm tùy thuộc vào kỹ năng chuyên môn của người cung cấp dịch vụ và lúc tiếp xúc giữa khách hàng với nhân viên. Một khách hàng có thể nhận được những dịch vụ tuyệt vời ngày hôm nay và những dịch vụ không được hài lòng trong những ngày kế tiếp do cùng một nhân viên cung cấp,có lẽ nhân viên cung cấp dịch vụ lúc này cảm thấy sức khỏe không tốt hay có vấn đề về tình cảm mà đôi khi điều này chịu tác động bởi ảnh hưởng nội vi. Sự dễ thay đổi và thiếu đồng nhất của sản phẩm là nguyên nhân chính của sự thất vọng của khách hàng. Tính dễ phân hủy: dịch vụ không thể tồn kho, nghĩa là sản phẩm dịch vụ không thể để dành cho ngày mai.
Dịch vụ không bán được ngày hôm nay thì không thể bán được cho ngày hôm sau. Đặc tính không đồng nhất: là do sản phẩm hữu hình và vô hình tạo nên. Với đặc tính này thường rất khó khăn để đạt tiêu chuẩn ban đầu của dịch vụ. Mỗi trường hợp tiêu thụ dịch vụ đòi hỏi có sự thực hiện cả người cung cấp và người tiêu thụ.
Cho nên, muốn có dịch vụ tốt cần phải có sự thực hiện tốt cả hai phía. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 Đặc tính không có quyền sở hữu, dịch vụ không có quyền sở hữu, chúng ta không mang theo được chỗ ngồi trong máy bay hay chỗ nằm trong khách sạn để làm của riêng mà chỉ mua quyền sử dụng của chúng. Các loại hình du lịch - Du lịch nghỉ ngơi: nhằm thỏa mãn nhu cầu căng thẳng bận rộn trong công việc kiếm sống hàng ngày, những stress phát sinh trong công việc, những dằn vặt để thân thể được giải phóng khỏi những suy nghĩ liên miên, đầu óc được thảnh thơi. - Du lịch tham quan: nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết thêm về đất nước, con người, sản vật, tài nguyên … của nơi du khách đến tham quan.
Đối tượng của loại hình du lịch tham quan là nơi có phong cảnh thiên nhiên đẹp, các khu lăng tẩm của những nhân vật lịch sử, các khu công trình kiến thức cổ. - Du lịch chữa bệnh: để tổ chức loại hình du lịch này phải có tài nguyên thiên nhiên điều trị những loại bệnh đặc biệt: suối nước khoáng, suối nước nóng có đủ hàm luợng các chất hóa học điều trị bệnh nhưng không gây tác dụng phụ. - Du lịch công vụ là loại hình du lịch kết hợp với công tác như đàm phán kinh tế, ngoại giao, giao dịch, nghiên cứu cơ hội đầu tư… - Du lịch chuyên đề: kết hợp du lịch với nghiên cứu khoa học. Đối tượng tham gia loại hình du lịch chuyên đề là những nhà khoa học, những chuyên gia nghiên cứu sâu về lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, bảo vệ môi trường… - Du lịch thể thao: các chuyên gia du lịch đã sử dụng hình thức du lịch tổ chức các lễ hội hoặc giúp du khách thực hành những môn thể thao mà họ ưu thích.
Các loại hình thể thao được tổ chức kết hợp với du lịch như lướt ván, đua thuyền, bơi, lặn, thám hiểm dưới nước, leo núi, trượt tuyết, chơi golf, … 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Khái niệm về sự hài lòng của du khách Theo quan điểm kinh tế thì du khách là các khách hàng sử dụng dịch vụ du lịch. Do vậy sự hài lòng của du khách cũng giống như sự hài lòng của các khách hàng khác.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về sự hài lòng của khách hàng ( Customer Satisfaction). Bachelet(1995) định nghĩa: “ Sự hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại kinh nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ”. Còn Oliver(1997) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một sự phản ứng của người tiêu dùng với việc đáp ứng những mong muốn của họ. Theo Philip Kotler(2001), sự hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ với những kỳ vọng của khách hàng.
Mức độ hài lòng phụ thuộc vào sự khác biệt giữa kết quả nhận được và kỳ vọng, nếu kết quả thu được thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng, nếu kết quản thu được thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng hài lòng.