Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, du lịch được xác định là ngành kinh tế dịch vụ quan trọng. Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nhu cầu, loại hình du lịch tâm linh ngày càng thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Tại Việt Nam, nhiều tuyến du lịch tâm linh liên vùng đã hình thành và phát triển như tuyến Hà Nội – Côn Sơn; Chùa Hương – Tam Chúc Ba Sao – Tràng An, Bái Đính – Đền Trần; tuyến Kinh đô Việt Cổ kết nối Đền Hùng – Hoàng Thành Thăng Long – Cố đô Hoa Lư – Thành nhà Hồ – Cố đô Huế.
Tỉnh Bắc Giang sở hữu hơn 2.000 di tích lịch sử - văn hóa, trong đó có 543 di tích đã được xếp hạng (477 di tích cấp tỉnh, 86 di tích cấp quốc gia và quốc gia đặc biệt). Địa phương này cũng lưu giữ nhiều di sản văn hóa phi vật thể và vật thể được UNESCO vinh danh như Dân ca Quan họ, Ca trù và Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương). Chùa Vĩnh Nghiêm (xã Trí Yên, huyện Yên Dũng) là ngôi chùa cổ có lịch sử khởi dựng từ thời Lý - Trần, được coi là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và là trung tâm đào tạo tăng đồ Phật giáo quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam. Mặc dù sở hữu hệ thống tài nguyên du lịch tâm linh đặc sắc, hoạt động khai thác du lịch tại chùa Vĩnh Nghiêm thời gian qua vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, cơ sở hạ tầng dịch vụ còn đơn sơ, công tác tổ chức quản lý còn bộc lộ một số bất cập. Do đó, đề tài "Phát triển du lịch tâm linh tại chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang" được tác giả lựa chọn nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ thực trạng hoạt động phát triển du lịch tâm linh tại di tích chùa Vĩnh Nghiêm, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khai thác điểm đến.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nội dung:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển loại hình du lịch tâm linh.
- Khảo sát, đánh giá các giá trị tài nguyên du lịch lịch sử, kiến trúc, văn hóa và tâm linh tại di tích chùa Vĩnh Nghiêm.
- Phân tích thực trạng khai thác du lịch tâm linh tại điểm đến trên các phương diện: thị trường khách, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực, doanh thu, công tác quản lý và xúc tiến quảng bá.
- Đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể nhằm tăng cường phát triển du lịch tâm linh tại chùa Vĩnh Nghiêm.
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động phát triển du lịch tâm linh tại chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Khách thể nghiên cứu bao gồm du khách, người đi lễ chùa và Ban quản lý di tích.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Không gian di tích chùa Vĩnh Nghiêm, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Thời gian: Thu thập và xử lý dữ liệu thực tế giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 4 năm 2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đề tài dựa trên hệ thống các khái niệm và cơ sở lý luận về du lịch và văn hóa tâm linh:
- Khái niệm du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (Khoản 1, Điều 3, Chương 1) và các định nghĩa học thuật của Hunziker - Krapf (1941), Coltman, cùng Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch tại Rome (1963).
- Khái niệm "Tâm linh" và "Văn hóa tâm linh" dựa trên công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đăng Duy (2001, Văn hóa tâm linh).
- Bản chất, đặc điểm của sản phẩm du lịch tâm linh: tính tổng hợp, tính mùa vụ cao, tính gắn kết mật thiết với tôn giáo - tín ngưỡng bản địa (đặc biệt là Phật giáo và Thiền phái Trúc Lâm), và tính bất biến tương đối của các giá trị văn hóa tâm linh cốt lõi.
- Khung phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển du lịch tâm linh gồm: môi trường bên ngoài (chính trị - pháp luật, văn hóa - xã hội, tự nhiên, kinh tế, cầu du lịch) và môi trường bên trong (chiến lược quy hoạch, tài nguyên du lịch, nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kỹ thuật, công tác tổ chức quản trị).
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Xử lý dữ liệu thứ cấp từ văn bản pháp quy, số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa, báo cáo của UBND huyện Yên Dũng, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, và các tài liệu lịch sử - tôn giáo.
- Phương pháp điều tra xã hội học:
- Phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo Ban quản lý di tích, sư trụ trì nhà chùa, người dân địa phương và du khách.
- Điều tra bảng hỏi với cỡ mẫu $n = 100$ phiếu, khảo sát du khách và người đi lễ tại chùa Vĩnh Nghiêm vào các thời điểm khác nhau (50 phiếu phát vào ngày mùng một và ngày rằm âm lịch; 50 phiếu phát vào ngày thường và ngày cuối tuần). Bảng hỏi gồm 25 tiêu chí thuộc 8 nhóm nội dung, sử dụng thang đo 5 mức độ (từ 1: Kém/Rất thấp đến 5: Rất tốt/Rất cao).
- Phương pháp quan sát, trải nghiệm điền dã: Trực tiếp quan sát các hoạt động hành lễ, tham quan, cung ứng dịch vụ và ghi nhận hình ảnh thực tế tại không gian di tích.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Tổng hợp điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của điểm đến.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm số liệu thống kê doanh thu và quản lý du lịch giai đoạn 2016-2018 do UBND huyện Yên Dũng cung cấp, cùng dữ liệu khảo sát thực tế sơ cấp thu thập đến tháng 4/2019.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số cơ sở lí luận về phát triển loại hình du lịch tâm linh
Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết nền tảng cho đề tài. Tác giả làm rõ nội hàm của du lịch tâm linh là loại hình du lịch kết hợp nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan với hoạt động hành hương, lễ bái, tìm hiểu triết lý tôn giáo và cân bằng tinh thần.
Chương này chỉ ra 4 đặc trưng cơ bản của du lịch tâm linh tại Việt Nam:
- Gắn liền với đức tin tôn giáo, trong đó Phật giáo chiếm hơn 90% các điểm đến tâm linh.
- Gắn với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", thờ cúng tổ tiên và tri ân các anh hùng dân tộc, danh nhân có công dựng nước và giữ nước.
- Kết hợp với các hình thức rèn luyện tâm - thân như thiền định, khí công, dưỡng sinh (tiêu biểu theo phương pháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử).
- Chịu sự chi phối sâu sắc của tính mùa vụ (lượng khách tập trung đột biến vào mùa lễ hội đầu xuân, đặc biệt là tháng Giêng và các ngày sóc, vọng âm lịch).
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích các xu hướng phát triển du lịch tâm linh tại Việt Nam: sự gia tăng về quy mô khách nội địa, nhu cầu trải nghiệm chiều sâu, xu hướng đầu tư hạ tầng khu điểm du lịch tâm linh, và sự quan tâm của Nhà nước trong việc quy hoạch bảo tồn gắn với phát triển kinh tế địa phương.
Chương 2: Tình hình phát triển du lịch tâm linh tại chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang
Chương 2 tập trung phân tích nguồn lực tài nguyên, hiện trạng vận hành và kết quả khảo sát thực tế tại chùa Vĩnh Nghiêm.
Về giá trị tài nguyên du lịch:
- Vị trí và lịch sử: Chùa tọa lạc tại thôn Quốc Khánh, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, cách thành phố Bắc Giang 18km về phía Nam, nằm ở khu vực ngã ba Phượng Nhãn (nơi hợp lưu sông Lục Nam và sông Thương). Chùa khởi dựng thời Lý Thái Tổ (năm 1010, hoàn thành 1016 mang tên Chúc Thánh thiền tự, trụ trì đầu tiên là Thiền sư Vạn Hạnh). Đến thế kỷ XIII, Phật hoàng Trần Nhân Tông cho trùng tu, đổi tên thành Vĩnh Nghiêm tự, biến nơi đây thành trung tâm truyền bá Phật giáo của Tam tổ Trúc Lâm (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang).
- Kiến trúc vật thể: Khuôn viên rộng khoảng 1ha, bố cục trục Nam - Bắc gồm 7 khối công trình chính: Cổng Tam quan (phục dựng 1993-1994, 2 tầng 8 mái); Tòa Tam bảo hình chữ "Công" (gồm Tiền đường 5 gian 2 chái, Thiêu hương 3 gian, Thượng điện 1 gian 2 chái); Nhà Tổ đệ nhất (thờ Tam tổ Trúc Lâm, Thần Độc Cước, Tôn Ngộ Không); Gác chuông (chồng diêm 6 mái, cao gần 8m); Nhà Tổ đệ nhị (mặt bằng chữ "Nhị", gồm Bái đường 11 gian và Hậu cung 3 gian); hai dãy hành lang và Vườn tháp gồm 9 tháp mộ cổ. Chùa được xếp hạng Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 1964 và Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015.
- Kho Mộc bản: Gồm 3.050 bản khắc gỗ thị, chứa đựng 34 đầu sách kinh luật, trước tác của các danh nhân thời Trần, Lê, Nguyễn. Bản cổ nhất là bộ "Yên Tử nhật trình" (kích thước 1,8m x 0,3m); bản nhỏ nhất là cuốn "Dấu chấn" (0,25m x 0,17m). Mẫu chữ Nôm trong bản khắc "Thiền tông bản hạnh" tại đây đã được Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm sử dụng để tạo font chữ Nôm chuẩn trên mã Unicode (
NomNaTongLight.ttf). Mộc bản được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ngày 16/5/2012.
- Di sản phi vật thể: Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm tổ chức ngày 13-14 tháng 2 âm lịch hàng năm (được công nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia ngày 9/9/2013), nổi bật với các nghi thức Phật giáo, trò chơi dân gian và ẩm thực chay truyền thống làng La.
Hiện trạng khai thác du lịch:
- Cơ sở hạ tầng và dịch vụ: Đã xây dựng Nhà trưng bày Mộc bản, nhà đón tiếp, khu tiệc chay; hoàn thành nâng cấp tuyến đường tỉnh 293 nối thành phố Bắc Giang với chùa Vĩnh Nghiêm - Suối Mỡ - Tây Yên Tử; vận hành tuyến xe buýt kết nối liên huyện.
- Thị trường khách: Khách nội địa là người Kinh chiếm đa số, tập trung ở độ tuổi 30-50 và trên 50 tuổi. Thời gian lưu trú ngắn (chủ yếu trong ngày hoặc nửa ngày, hầu như không lưu trú qua đêm). Tính mùa vụ rất rõ: 3 tháng đầu năm âm lịch chiếm khoảng 30% tổng lượt khách cả năm của huyện.
- Doanh thu du lịch: Đóng góp vào doanh thu chung của huyện Yên Dũng tăng trưởng đều qua các năm.
| Năm |
Doanh thu du lịch khối Doanh nghiệp và Tư nhân huyện Yên Dũng (Tỷ đồng) |
| 2016 |
37,50 |
| 2017 |
45,75 |
| 2018 |
55,80 |
(Nguồn: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo UBND huyện Yên Dũng trong khóa luận)
Nguồn thu trực tiếp tại chùa chủ yếu từ tiền công đức của khách thập phương và phí dịch vụ trông giữ phương tiện (5.000 VNĐ/xe máy, 20.000 VNĐ/ô tô).
- Công tác quản lý và xúc tiến: Điểm di tích chịu sự quản lý đồng thời của 5 đơn vị (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Giang; Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Dũng; Ban Quản lý di tích huyện Yên Dũng; Ban Quản lý di tích xã Trí Yên; Trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm). Công tác quảng bá đã triển khai qua việc xuất bản 2.000 cuốn sách song ngữ Việt - Anh "Chùa Vĩnh Nghiêm" (NXB Lao động), lắp đặt 5 cụm pa-nô tấm lớn trên các tuyến đường tỉnh 299, 299B và các phóng sự truyền hình.
- Kết quả khảo sát 100 du khách: Đánh giá cao tính hấp dẫn (57% đánh giá mức 4, 11% đánh giá mức 5) và tính độc đáo của di tích (42% mức 4, 42% mức 5). Tuy nhiên, các tiêu chí dịch vụ bổ trợ còn hạn chế: tiêu chí quán nước chèo kéo khách có 19% chọn mức 1 và 32% chọn mức 2; dịch vụ lưu trú hoàn toàn không có đánh giá mức 5.
Phân tích SWOT:
- Điểm mạnh: Tài nguyên di sản kép (Di tích quốc gia đặc biệt và Di sản tư liệu thế giới); vị trí giao thông kết nối thuận lợi với trục Tây Yên Tử.
- Điểm yếu: Hạ tầng lưu trú - ẩm thực nghèo nàn; mô hình quản lý còn chồng chéo giữa 5 đầu mối; nguồn nhân lực thuyết minh và phục vụ du lịch thiếu tính chuyên nghiệp; hoạt động xúc tiến trên nền tảng số còn hạn chế.
- Cơ hội: Sự quan tâm đầu tư hạ tầng của tỉnh Bắc Giang theo Nghị quyết phát triển du lịch; xu hướng gia tăng của dòng khách du lịch tâm linh.
- Thách thức: Xử lý mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản nguyên gốc và áp lực khai thác du lịch; tình trạng mùa vụ sâu sắc; thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách còn thấp.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường phát triển du lịch tâm linh ở chùa Vĩnh Nghiêm, Bắc Giang
Dựa trên Nghị quyết của Tỉnh ủy Bắc Giang về phát triển du lịch giai đoạn 2016 - 2020 (xác định 3 sản phẩm chủ lực: du lịch văn hóa - tâm linh, lịch sử - văn hóa, và sinh thái - nghỉ dưỡng), tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp thực hiện:
- Giải pháp về tổ chức quản lý: Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa 5 cơ quan quản lý hiện hành; phân định rõ trách nhiệm giữa cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương và nhà chùa; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh tình trạng bán hàng rong chèo kéo du khách trong mùa lễ hội.
- Giải pháp nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Mở rộng và quy hoạch bãi đỗ xe đạt chuẩn; xây dựng đồng bộ hệ thống biển chỉ dẫn du lịch, nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn; bố trí các điểm dừng chân, khu vực dịch vụ mua sắm sản vật địa phương tách biệt với khu vực nội tự tôn nghiêm.
- Giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức văn hóa, lịch sử và kỹ năng giao tiếp, thuyết minh du lịch cho đội ngũ cán bộ ban quản lý, tăng ni và người dân địa phương tham gia làm dịch vụ.
- Giải pháp phát triển sản phẩm và dịch vụ du lịch: Thiết kế các tour du lịch chuyên đề kết nối Chùa Vĩnh Nghiêm - Thiền viện Trúc Lâm Phượng Hoàng - Chùa Kem, tuyến Tây Yên Tử (Chùa Vĩnh Nghiêm - Chùa Hạ - Sơn Động) và tuyến liên tỉnh Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc - Yên Tử; mở rộng các hoạt động trải nghiệm như khóa tu mùa hè, thiền trà, trải nghiệm in mộc bản truyền thống trên giấy dó và thưởng thức ẩm thực chay làng La.
- Giải pháp quảng bá, xúc tiến và liên kết: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá; liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Dương để đưa chùa Vĩnh Nghiêm vào chương trình tour thường kỳ.
- Giải pháp bảo tồn di sản văn hóa - tâm linh: Áp dụng quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt trong bảo quản kho Mộc bản (kiểm soát độ ẩm, nhiệt độ, phòng chống cháy nổ và mối mọt); kiểm soát sức chứa của điểm đến trong các ngày cao điểm lễ hội để tránh tác động tiêu cực đến kết cấu kiến trúc gỗ cổ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được một số kết quả cụ thể:
- Làm rõ cơ cấu giá trị tài nguyên của di tích chùa Vĩnh Nghiêm, trong đó hệ thống hóa các tư liệu lịch sử về kiến trúc chữ "Công", nhà Tổ, hệ thống văn bia (bia Hoằng Định thứ 7 năm 1606) và kho 3.050 mộc bản kinh Phật.
- Khảo sát và định lượng hóa thực trạng du lịch tại điểm đến qua điều tra 100 bảng hỏi, chỉ ra khoảng cách giữa giá trị tài nguyên (được đánh giá cao, 84% điểm 4-5 về tính độc đáo) và chất lượng dịch vụ thực tế (51% đánh giá ở mức 1-2 đối với hiện tượng quán xá chèo kéo).
- Cung cấp số liệu thống kê về doanh thu du lịch khối doanh nghiệp - tư nhân của huyện Yên Dũng (đạt 55,8 tỷ đồng năm 2018).
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn liền với định hướng phát triển 3 dòng sản phẩm du lịch chủ lực của tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2016-2020.
Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã hệ thống hóa tư liệu nghiên cứu trường hợp cụ thể tại một điểm di tích mang danh hiệu quốc tế, cung cấp dữ liệu khảo sát thực chứng phục vụ công tác quản lý điểm đến tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực địa giới hạn tại không gian chùa Vĩnh Nghiêm và vùng phụ cận xã Trí Yên; cỡ mẫu khảo sát (100 phiếu) còn khiêm tốn và tập trung chủ yếu vào khách du lịch nội địa, chưa thu thập được mẫu ý kiến từ đối tượng khách quốc tế.
- Khung thời gian dữ liệu dừng ở tháng 4/2019, chưa phản ánh các biến động kinh tế - xã hội và thị trường du lịch ở các giai đoạn sau đó.
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng đánh giá chuỗi liên kết tour tâm linh liên tỉnh thuộc hành trình "Con đường Hoằng dương Phật pháp của Tam tổ Trúc Lâm" (kết nối Bắc Giang - Hải Dương - Quảng Ninh).
- Nghiên cứu chuyên sâu các giải pháp thương mại hóa bền vững và số hóa Di sản tư liệu Mộc bản phục vụ phát triển du lịch thông minh.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản trị Điểm đến Du lịch, Văn hóa học, Việt Nam học khi thực hiện các đề tài nghiên cứu về du lịch tâm linh, du lịch di sản hoặc nghiên cứu trường hợp tại vùng Đông Bắc Bộ.
- Cơ quan quản lý văn hóa - du lịch huyện Yên Dũng, Ban Quản lý di tích chùa Vĩnh Nghiêm trong việc đánh giá ý kiến du khách và xây dựng phương án sắp xếp, nâng cấp dịch vụ tại điểm đến.
- Nội dung đáng tham khảo nhất là hệ thống mô tả chi tiết các hạng mục kiến trúc gỗ cổ, cấu trúc kho Mộc bản và bảng số liệu khảo sát thực chứng 25 tiêu chí đánh giá dịch vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Kho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm có số lượng bao nhiêu tấm và được UNESCO công nhận vào thời gian nào?
Kho Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm hiện lưu giữ 3.050 bản ván khắc rời bằng gỗ thị với 34 đầu sách (chủ yếu là kinh luật, trước tác Phật giáo và y học dân tộc). Ngày 16/5/2012, kho mộc bản được Ủy ban UNESCO khu vực Châu Á - Thái Bình Dương chính thức ghi danh là Di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới.
2. Điểm di tích chùa Vĩnh Nghiêm chịu sự quản lý của những cơ quan, đơn vị nào?
Tại thời điểm nghiên cứu, chùa Vĩnh Nghiêm chịu sự quản lý đồng thời của 5 đơn vị: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang; Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Yên Dũng; Ban Quản lý di tích huyện Yên Dũng; Ban Quản lý di tích xã Trí Yên; và Trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm.
3. Doanh thu du lịch khối doanh nghiệp và tư nhân huyện Yên Dũng giai đoạn 2016 - 2018 đạt mức bao nhiêu?
Theo số liệu của UBND huyện Yên Dũng được trích dẫn trong khóa luận, doanh thu đạt 37,5 tỷ đồng (năm 2016), 45,75 tỷ đồng (năm 2017) và 55,8 tỷ đồng (năm 2018).
4. Kết quả khảo sát 100 du khách chỉ ra hạn chế lớn nhất tại chùa Vĩnh Nghiêm là gì?
Hạn chế lớn nhất nằm ở chất lượng dịch vụ bổ trợ và thương mại: tiêu chí quán nước chèo kéo khách có 19% đánh giá mức 1 và 32% đánh giá mức 2; dịch vụ lưu trú và ẩm thực còn đơn sơ, chưa đáp ứng nhu cầu lưu lại của du khách.
5. Lễ hội chùa Vĩnh Nghiêm diễn ra vào thời gian nào và có vị thế pháp lý ra sao?
Lễ hội được tổ chức vào ngày 13 và 14 tháng 2 âm lịch hàng năm nhằm tưởng nhớ công lao của Tam tổ Trúc Lâm. Lễ hội đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào ngày 9/9/2013 (đón nhận bằng năm 2014).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Lâm Mĩ Huyền đã phân tích bức tranh tổng thể về tiềm năng tài nguyên và thực trạng khai thác du lịch tâm linh tại Di tích quốc gia đặc biệt chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Dựa trên phương pháp điều tra xã hội học và phân tích SWOT, công trình đã chỉ rõ điểm nghẽn về hạ tầng dịch vụ, tính mùa vụ và mô hình tổ chức quản lý di tích. Hệ thống giải pháp được đề xuất cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ định hướng phát triển bền vững điểm đến trong mạng lưới du lịch tâm linh vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ.