chương 1 tác giả của khóa luận đã hệ thống hóa lại được các lý luận về du lịch tâm linh. Đầu tiên tác giả đưa ra được các khái niệm, tiếp đó tác giả còn nêu đến đặc điểm cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến du lịch tâm linh. Bên cạnh đó, xu hướng phát triển du lịch tâm linh ở Việt Nam cũng được đề cập. Qua đây hình thành những cái nhìn tổng quan nhất về thông tin và cơ sở lý luận cho tất cả những nội dung được nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp này.
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TÂM LINH TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, BẮC GIANG 2. Khái quát về chùa Vĩnh Nghiêm 2. Vị trí địa lý - Địa chỉ: Xã Trí Yên, huyện Yên Dũng - Địa lý: Chùa Vĩnh Nghiêm, hay còn gọi là chùa Đức La thuộc địa phận thôn Quốc Khánh (làng Đức La xưa), xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, cách thành phố Bắc Giang 18km về phía Nam. Ngôi chùa này là nút giao giữa sông Lục Nam và sông Thương (gọi là ngã ba Phượng Nhãn).
Chùa nhìn ra ngã ba sông, phía Lục Đầu Giang- Kiếp Bạc, vùng Cẩm Lý cửa ngõ ra vào núi Yên Tử. Xung quanh chùa là những dãy núi cao, đặc biệt có núi Cô Tiên. Bên kia sông là vương phủ của Trần Hưng Đạo, đền Kiếp Bạc. Lịch sử hình thành - Lịch sử ra đời của chùa Vĩnh Nghiêm: Ngôi chùa này có từ đầu thời Lý Thái Tổ (1010-1028), tên chữ là Vĩnh Nghiêm Tự.
Thời vua Trần Thánh Tông (1258-1278) các vị cao tăng thường hay tụ tập tại đây nên nó được trùng tu và sửa chữa nguy nga. Khi vua Trần Nhân Tông (1258-1308) không còn nhiếp chính nữa, quy ẩn tại chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Ngọa Vân (Yên Tử) thụ giới, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà, sáng lập lên phái Thiền tông của Phật giáo Việt Nam. Hương Vân cùng hai đệ tử Pháp Loa, Huyền Quang sáng lập, hoàn chỉnh phái Thiền tông Việt Nam gọi là Tam tổ. Chùa tọa lạc nơi có cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nơi hợp lưu của sông Lục Nam và sông Thương, được ví là một danh lam cổ tự đứng đầu trong thiên hạ.
Tương truyền chùa được xây dựng từ thời Lý và mở rộng vào khoảng thế kỷ XIII, thời nhà Trần. Lịch sử phát triển của chùa gắn liền với sự hình thành và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm do Vua Trần Nhân Tông sáng lập. Ba vị Trúc Lâm tam tổ từng trụ trì và mở ra trường thuyết pháp tại đây, nên chùa Vĩnh Nghiêm được coi là chốn tổ của Thiền phái Trúc Lâm, trường đại học phật giáo đầu tiên ở Việt Nam và là trung tâm Phật giáo thời Trần. Chính vì thế, đến nay trong dân gian vẫn lưu truyền câu ca: “Ai qua Yên Tử, Quỳnh Lâm Vĩnh Nghiêm chưa tới thiền tâm chưa đành” Chùa được xây dựng từ thế kỷ XI dưới thời Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có tên là chùa Chúc Thánh (Chúc Thánh thiền tự).
Theo bia tháp ghi lại, năm Thuận Thiên 12 Thang Long University Library Nguyên Niên (1010), Vua Lý Thái Tổ cử hai quan trong triều là Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạt thiết kế đồ án, lo việc kiến thiết 8 ngôi chùa, trong đó có chùa Vĩnh Nghiêm ngày nay. Chùa được hoàn thành vào năm 1016, vị trụ trì đầu tiên là Thiền sư Vạn Hạnh, kế tiếp là các vị: Đạo An, Minh Tâm, Bảo Tánh và Huệ Quang. Đến thế kỷ XIII, Phật hoàng Trần Nhân Tông đã cho sửa sang, trùng tu, tôn tạo lại, đổi tên là chùa Vĩnh Nghiêm (Vĩnh Nghiêm tự) với mong muốn ngôi chùa mãi mãi trường tồn, mãi mãi tôn nghiêm. Chùa Vĩnh Nghiêm từ lâu đã được nhân dân ta nhìn nhận và tôn vinh là một trong những Trung tâm truyền bá Phật giáo của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần mang đậm bản sắc dân tộc,là nơi tổ chức và thành lập mô hình Phật giáo nhất tông trên cơ sở hợp nhất các thiền phái đã có trước đó và cũng là mô hình Giáo hội Phật giáo cho các tổ chức Giáo hội sau này.Theo sử sách ghi lại, chùa Vĩnh Nghiêm là nơi có số lượng tăng, ni tham gia an cư kiết hạ rất đông và quần chúng phật tử đến nghe Pháp đại thừa khá lớn.
Vì thế, chùa được xây dựng trong khuôn viên đất rộng, quy hoạch kiến trúc phải đảm bảo sự sinh hoạt cho tử chúng. Chùa Vĩnh Nghiêm chính là Thánh tích quan trọng bậc nhất của Phật giáo Việt Nam nói chung, của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nói riêng được coi là trường Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam và cũng được coi là chốn tổ Vĩnh Nghiêm, được các nhà nghiên cứu coi là “Bảo tang Văn hóa Phật giáo Đại thừa”. Trải qua gần 800 năm lịch sử với bao thăng trầm, cái tên Vĩnh Nghiêm vẫn tồn tại cho đến bây giờ, đúng với ý nghĩa tên gọi của nó. Vĩnh Nghiêm ngày nay đã trở thành trung tâm du lịch tâm linh, có bề dày lịch sử về cơ sở đào tạo Tăng tài đầu tiên của đất nước, có lối kiến trúc đậm nét đặc trưng miền Bắc cổ, nằm ở vị trí non nước hữu tình về mặt cảnh quan, chiếm vị trí địa linh làm nảy nở một dòng Thiền thuần Việt.
Kết cấu và cơ cấu tổ chức - Kiến trúc chùa Vĩnh Nghiêm: Diện tích chùa khoảng 1ha, bao quanh chùa là lũy tre dày đặc. Hiện nay, chùa được tu tạo và tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến du lịch và lễ bái. Du khách có thể đi theo lộ trình như: Cổng tam quan, đi sâu vào khoảng 100m nữa là bái đường hay còn gọi là chùa Hộ. Hai bên đường chùa được xây dựng những khóm thông khoảng tầm 1m để tạo thành tùng lâm.
Trên sân chùa có một bia đá to, gồm 6 mặt dựng năm Hoằng Định thứ 7 (1606). Ngay trước mặt tấm bia cổ là vườn tháp mộ của 5 vị sư: Phù Lãng Trung pháp (hiệu Sa 13 môn), Thông Duệ ứng Duyên, Thanh Quý, Tịnh Phương Sa Môn, Thanh Hanh và một số tháp khác. Trải qua gần một thiên niên kỷ với nhiều lần trùng tu, tôn tạo, công trình kiến trúc hiện nay của chùa Vĩnh Nghiêm là sản phẩm của hai triều đại Lê Trung Hưng và triều Nguyễn. Để đáp ứng nhu cầu thờ Phật và nơi đào tạo tăng đồ của cả nước, chùa Vĩnh Nghiêm được xây dựng với quy mô lớn.
Chùa Vĩnh Nghiêm có bố cục mặt bằng kiến trúc nằm dọc theo trục Nam – Bắc đăng đối, hài hòa, quay hướng Đông Nam, gồm nhiều đơn nguyên kiến trúc tạo thành một thể thống nhất, trong đó tiêu biểu: a. Tam quan Tam quan chùa Vĩnh Nghiêm là công trình kiến trúc gỗ xây theo lối chồng diêm gồm một gian, hai chái với 2 tầng 8 mái đao cong. Bờ nóc xây gạch phủ vữa, giữa đắp hình lưỡng long chầu nguyệt, bờ dải xây gạch chát vữa, khúc nguỷnh tạo hình nghê chầu, bờ guột xây gạch phủ vữa nối các đầu đao cong, ba cửa ra vào tượng trưng cho ba yếu tố Giả - Hư – Không của đạo Phật, ba điều mà người tu thiền phải nắm vững. Các đầu đao được đắp trang trí hình đầu rồng và con xô.
Trước cửa Tam quan có đôi rồng đá. Kết cấu khung vì mái gồm 4 hàng chân cột, liên kết ở hai vì mái theo kiểu thức con chồng trụ giá chiêng, trên các cấu kiện có trạm nổi đề tài hoa lá. Qua chốn Tam quan này nghĩa là đã bước vào cảnh thiền, tất sẽ được Phật độ để lòng tĩnh lặng, thanh thoát. Tòa kiến trúc này được phục dựng lại vào năm 1993-1994.
Tam bảo Nối với Tam quan bởi đường chính đạo dài khoảng 100m, rộng 4m lát gạch vuông đỏ. Bên phải góc sân đặt một tấm bia đá hình lục lăng niên hiệu Hoằng Định thứ 7 (1606) với nội dung ghi việc tu sửa chùa. Đây là tổ hợp ba công trình thờ Phật theo phái Đại thừa – một tông phái đặc trưng là thờ nhiều Phật, Bồ tát và hành giả, trong đó, thờ tượng Bồ tát là đặc trưng tiêu biểu của tông phái Đại thừa. Với cấu kiện kiến trúc gỗ gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện, ba công trình này tạo thành một khối, bố cục mặt bằng theo kiểu chữ “công” với thiết kế khang trang, lối tàu bảy, đao lá, mái 4 đao, 8 kèo, kiểu con chồng thượng tam hạ tứ.
Tòa Tam bảo lưu giữ 3 báu vật của chốn Thiền môn là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Phật bảo ở đây là những pho tượng được để ngôi tôn quý, thờ phụng, hương hỏa quanh năm. 14 Thang Long University Library Tòa Tam bảo lưu giữ 3 báu vật của chốn Thiền môn là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Phật bảo ở đây là những pho tượng được để ở ngôi tôn quý, thờ phụng, hương hỏa quanh năm.
Pháp bảo là các kinh sách bàn về việc nhà Phật. Tăng bảo là những người xuất gia tu hành chuyên tâm lo việc nhà Phật, là cầu nối giữa Phật và chúng sinh. Cả ba điều này đều được người dân giữ gìn, bảo quản với tinh thần chỉ làm thêm cho đẹp, cho tốt hơn chứ không ai lấy đi. Ai cũng tâm niệm rằng của Bụt mất một đền mười, vì vậy, nếu nhỡ có ai vô ý lấy đi thì lòng trần day dứt lại đem về làm lễ hoàn lại, ăn năn hối lỗi cả đời.
• Tiền đường Đây là công trình kiến trúc có quy mô lớn nhất trong hệ thống các khối kiến trúc chùa. Toàn bộ mặt trước nền được bó vỉa bởi các phiến đá. Hệ mái tiền đường cao hơn 7m, lớp ngói mũi hài, kết cấu theo kiểu đao tàu, kẻ góc, để trống đầu hồi. Bờ nóc, bờ chảy gắn hoa chanh, chính giữa đắp hình cuốn thư trong đề ba chữ “Vĩnh Nghiêm tự”.
Cả 7 gian phía trước tiền đường đều tạo cửa gỗ kiểu ván đố lụa soi vỏ măng và bức bàn chân quay. Hai gian ngoài cùng có trổ cửa sổ kiểu chấn song bằng gỗ lim. Nền Tiền đường cao hơn so với chân 0,62m được nện bằng đất theo kỹ thuật dân gian. Tòa Tiền đường kết cấu 5 gian, 2 chái, 8 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột.
• Thiêu hương Tường xây gạch chỉ, để mộc, mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc gắn dải hoa chanh, nền đất nện. Tòa Thiêu hương có kết cấu 3 gian, 4 vì, mỗi vì 4 hàng chân cột. Liên kết 4 vì nóc theo kiểu thức chồng rường, giá chiêng, vì nách kiểu con chồng, đấu kê, các cấu kiện chạm khắc hình hoa lá cách điệu.
• Thượng điện Có 1 gian, 2 chái, 4 vì, mỗi vì bốn hàng chân cột. Liên kết bốn vì mái theo kiểu thức kèo cánh ác trụ trốn với ván định thiên ở trên câu đầu, dưới con chồng trụ đấu kê – xà, nách – kẻ.