Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN XÃ HỘI VÀ ĐÓNG GÓP CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỊA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về VXH 1. Khái niệm VXH VXH (social capital) được thế giới công nhận là một trong các loại vốn phi vật chất, song hành cùng các loại vốn khác như vốn văn hóa, vốn con người. VXH xuất hiện đầu tiên vào năm 1916 do Hanifan đưa ra.
Hanifan (1916): “VXH là những giá trị phi vật thể được tích lũy trong cuộc sống hàng ngày của con người: lòng nhân ái, tình bạn, sự đồng cảm và sự tương tác xã hội giữa các cá nhân và cộng đồng tạo nên xã hội”. Định nghĩa của Hanifan về VXH cho thấy các tiêu chí đo lường, cách thức hình thành và những ảnh hưởng mà VXH đem đến cho cá nhân và xã hội. Theo Hanifan, VXH được đo lường qua sự thiện chí, tình bạn bè, sự đồng cảm và giao tiếp giữa người với người, và giữa cá nhân con người với xã hội. Ông cho rằng VXH sẽ được hình thành qua việc cá nhân giao tiếp với những người xung quanh mình.
Và khi đó nó được cho là một loại vốn có ảnh hưởng tốt và đem lại lợi ích cho cá nhân cũng như ĐP. Sau Hanifan, cũng có một số nhà NC phân tích chuyên sâu về VXH như Bourdieu, Coleman và Putnam (Tzanakis, 2013). Trong NC “Các hình thức của VXH”, Bourdieu (1986, tr.51) đã định nghĩa: “VXH là tổng hòa các nguồn lực thực tế và tiềm năng trong một mạng lưới bền vững, bao gồm các MQH giữa những người quen biết lẫn nhau, gắn kết và công nhận lẫn nhau; những MQH này ít nhiều đã được thể chế hóa”. Theo Bourdieu, VXH là tổng hòa các lực hiện có hoặc sẽ có trong tương lai.
Bourdieu cho rằng nguồn lực đó chính là hệ thống mạng lưới xã hội tương đối bền vững được hình thành từ những người thân quen và đã có sự gắn kết, tin cậy lẫn nhau. Và đặc biệt theo ông, mạng lưới xã hội này đã được thể chế hóa. Trong tác phẩm “VXH trong việc tạo ra nguồn nhân lực”, Coleman (1988) cho rằng: “VXH bao gồm mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội, là những cái giúp cho con người có thể hành động chung cùng nhau nhằm đạt tới những 15 mục tiêu chung”. Như vậy theo Coleman, VXH gồm: các chuẩn mực quy tắc, hệ thống xã hội, sự tin tưởng.
Chính những yếu tố này sẽ giúp các cá nhân trong xã hội có thể gắn kết với nhau và cùng nhau làm việc có hiệu quả. Tuy nhiên ông cũng lưu ý: không phải lúc nào VXH cũng mang lại kết quả như mong muốn cho cá nhân và xã hội bởi lẽ kết quả sử dụng của VXH còn tùy vào “đối tượng sử dụng” VXH ở từng hoàn cảnh cụ thể. Putnam (1994) đã định nghĩa: “VXH là đặc trưng của tổ chức xã hội, biểu hiện qua các yếu tố lòng tin, chuẩn mực, mạng lưới xã hội, tạo điều kiện cho các MQH hợp tác PT”. Như vậy cũng giống như Putnam (1993) cũng cho rằng VXH được cấu thành bởi “lòng tin, chuẩn mực, mạng lưới xã hội”.
Nhờ những yếu tố này mà thành viên cũng như tổ chức hình thành liên kết hợp tác và PT, từ đó dẫn đến lợi ích cho hoạt động của cá nhân và xã hội. Hai năm sau đó, Putnam một lần nữa khẳng định lại rằng “VXH là những phương tiện và những kĩ năng đào tạo có tác dụng làm gia tăng năng suất cá nhân. VXH nói tới những khía cạnh đặc trưng của tổ chức xã hội như các mạng lưới xã hội, các chuẩn mực và sự tin cậy trong xã hội. VXH tạo ra sự phối hợp và sự hợp tác nhằm nâng cao kết quả, mang đến lợi ích chung cho xã hội” Putnam (2000a).
NC cho rằng: xã hội sẽ PT thuận lợi khi xã hội đó tích lũy được một nguồn lực VXH đáng kể. Ông cho rằng lòng tin sẽ hình thành khi người dân bắt đầu tham gia hợp tác để cùng nhau tháo gỡ khó khăn chung. Nếu tiếp tục hợp tác như thế thì sự gắn kết giữa các cá thể sẽ càng nhiều và càng chặt chẽ hơn, “cái tôi cá nhân” sẽ giảm xuống và thay vào đó là “cái chúng ta”. Người dân sẽ bắt đầu tự nguyện tham gia vào mạng lưới xã hội vì cộng đồng.
Chính vì lập luận như thế nên Putnam cho rằng “VXH có thể được đo lường bằng “lòng tin” và mối quan hệ “có đi có lại” trong một cộng đồng hoặc giữa các cá nhân”. Kế thừa có chọn lọc từ các NC về VXH trước đó, trong phạm vi NC của đề tài, ta có thể đưa ra quan niệm về VXH trên cơ sở tổng hợp từ điểm chung của các công trình đi trước về VXH như sau: VXH là một loại nguồn lực được hình thành từ mối quan hệ giữa các cá nhân hoặc tập thể, được tích lũy trong quá trình trao đổi và chia sẻ, hợp tác và kết nối giữa các cá nhân hoặc tập thể trong các mạng lưới xã hội dựa trên 16 lòng tin, sự thiện chí và sự tôn trọng các quy tắc, chuẩn mực chung đã được thể chế hóa nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân hoặc tập thể đó. NC sẽ phân tích quan niệm VXH ở một số phương diện như sau: - Một là, “các mối quan hệ” làm thành VXH sẽ bao gồm các mức từ nhỏ đến lớn: “cá nhân”, “tổ chức” và “xã hội”. Trong đó mức độ “cá nhân” là mức độ nhỏ nhất, là mức độ giữa cá nhân với cá nhân.
Tiếp đến là mức độ “tổ chức” được xem là VXH trung mô, bao gồm các tổ chức như công ty, xí nghiệp, trường học… Và mức độ lớn nhất là mức độ “xã hội” được xem là VXH vĩ mô bao gồm các chủ thể có cùng địa phương, quốc gia hay thậm chí là xét trên toàn thế giới. Một số NC liên quan có thể kể ra: các tác giả như L. Hanifan (1916), Bourdieu (2011), Coleman (1988) ở mức độ “cá nhân”; Robert (1995), Newton (1997), Kilpatrick, Bell, and Falk (1999), Kilby (2002), Buys and Bow , Sander (2002), Slangen, van Kooten, and Suchanek (2004) ở mức độ “tổ chức”; Glaeser, Laibson, and Sacerdote (2002), Ziersch, Baum, MacDougall, and Putland (2005)… NC ở mức độ “xã hội”. - Hai là, việc đầu tư vào các “cá nhân”, “tổ chức” hay “xã hội” không dựa vào các giá trị vật chất hữu hình mà là dựa trên các giá trị phi vật chất vô hình như: “lòng tin, sự tuân thủ các nguyên tắc, sự cộng tác, chia sẻ và hỗ trợ cho nhau”.
Các tác giả nói đến vấn đề này có thể kể đến như Coleman (1988); Putnam (1993); Harpham et al. - Ba là, các quan hệ trong VXH được hình thành khi nó đã được “thể chế hóa”. Tức là các nhân tố trong VXH luôn chịu sự tác động bởi các đường lối, chính sách của tổ chức, ĐP hay quốc gia cụ thể. NC đến vấn đề này có thể kể đến NC của Hiệp (2013).
Cơ sở lý luận về PTDL ĐP 1. Khái niệm PTDL ĐP 1. Khái niệm DL DL – ngành công nghiệp không khói – được đánh giá là một trong những ngành PT nhanh tại phần lớn các nước trên thế giới. Lợi ích mà ngành kinh tế này đem lại có thể thấy đó là nó giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người dân, ngay cả đối với những 17 cư dân yếu thế trong xã hội như phụ nữ, cư dân sống ở nông thôn.
Nó còn đóng góp đáng kể vào quá trình xóa đói giảm nghèo cho nước. Hiện nay nhận thức về nội dung DL vẫn đang được hiểu theo nhiều nghĩa. Do vậy, mỗi tác giả với những góc nhìn khác nhau sẽ có những định nghĩa khác nhau về DL. Tại “Hội nghị Liên Hiệp Quốc về DL ở Roma”, các NC đã đưa ra quan niệm “DL là tập hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế phát sinh từ việc đi lại và lưu trú của các cá nhân hoặc nhóm bên ngoài nơi cư trú thông thường của họ hoặc ra nước ngoài vì mục đích hòa bình.
Nơi họ ở không phải là nơi họ làm việc”. Định nghĩa này cho ta thấy được tính chất quốc tế hóa của HĐDL và là cơ sở để hiểu được thế nào là du khách. Holloway & Taylor (2006) cho rằng “DL là hành động di chuyển của con người để giải trí, kinh doanh hoặc mục đích khác”. Đề cập một cách cụ thể đến không gian và thời gian của HĐDL, Mill & Morrison (1992) cho rằng “DL là một hoạt động diễn ra khi mọi người vượt qua biên giới quốc gia hoặc lãnh thổ hoặc biên giới khu vực vì mục đích giải trí hoặc công vụ và ở lại đó hơn 24 giờ và không quá một năm”.
Theo ILO (2012), “DL là sự di chuyển của con người khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ trong vòng một năm mà không bị gián đoạn để giải trí, kinh doanh hoặc các mục đích khác. Ở Việt Nam, khái niệm DL đã được làm rõ trong Luật DL Việt Nam năm 2017. Theo đó “DL là việc xác lập nơi ở thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên DL hoặc kết hợp với các hoạt động khác” (Quốc hội, 2017). Từ các định nghĩa khác nhau về DL, ta có thể thấy “hầu hết các định nghĩa đều khẳng định DL là hoạt động của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình với mục đích giải trí, tham gia, khám phá tài nguyên DL hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của các mục đích khác trong vòng một năm liên tục.
Việc thực hiện HĐDL này vừa đáp ứng nhu cầu của du khách, vừa đáp ứng nhu cầu của nơi diễn ra HĐDL của du 18 khách. HĐDL không chỉ mang lại lợi ích về kinh tế mà còn mang lại lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội”. Đi cùng với HĐDL là các sản phẩm DL. Theo (Quốc hội, 2017) “Sản phẩm DL là một tập hợp các dịch vụ dựa trên việc sử dụng các giá trị của tài nguyên DL để đáp ứng nhu cầu của KDL”.
Như vậy sản phẩm của HĐDL sẽ gồm “những sản phẩm vật thể và cả những sản phẩm phi vật thể”. Xem xét quá trình tiêu dùng của KDL thì các sản phẩm DL sẽ bao gồm các nhóm là “dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, thư giãn, làm đẹp, chăm sóc sức khỏe, hàng hóa đồ lưu niệm và một số sản phẩm khác như các dịch vụ làm visa, hộ chiếu.” Nói tóm lại các sản phẩm DL là tất cả các hàng hóa (gồm hàng hóa hữu hình và vô hình).