Chương 1: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn về công tác quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Ban Điều phối các dự án vốn nước ngoài tỉnh Tuyên Quang. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Ban Điều phối các dự án vốn nước ngoài tỉnh Tuyên Quang. Cơ sở lý thuyết về quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài 1.
Khái niệm nguồn vốn đầu tư nước ngoài Nguồn vốn đầu tư nước ngoài được hiểu là nguồn vốn (dưới dạng tiền mặt hoặc tài sản) mà nhà đầu tư của một quốc gia bỏ ra để đầu tư, thực hiện một hoặc một số hoạt động, dự án sản xuất kinh doanh trong một thời gian nhất định và tại một số địa điểm cụ thể, dưới một hình thức đầu tư nhất định tại một quốc gia khác. Hiểu một cách đơn giản hơn, vốn đầu tư nước ngoài là nguồn vốn từ nhà đầu tư (tổ chức/cá nhân) của một quốc gia bỏ ra để đầu tư vào một dự án, hoạt động kinh doanh tại quốc gia khác với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chẳng hạn dự án đầu tư phát triển kinh tế của Việt Nam có vốn đầu tư từ một tổ chức phi chính phủ tại Mỹ, thì nguồn vốn đó gọi là vốn đầu tư nước ngoài. Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đa phần đóng vai trò giúp tăng trưởng kinh tế cho đất nước được đầu tư trong thời gian dài hạn.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể đến từ một cá nhân hoặc công ty, tập đoàn. Tuy nhiên, nguồn vốn lớn đa số đến từ các doanh nghiệp, tập đoàn với nhu cầu mở rộng chi nhánh, phát triển kinh doanh tại nhiều quốc gia trên thế giới. Tùy vào hình thức đầu tư mà nguồn vốn được phân thành hai loại sau đây: Vốn đầu tư trực tiếp: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hay còn được gọi là vốn đầu tư FDI. Đây là vốn đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Lúc này nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty. Vốn FDI là nguồn tiền hoặc dòng tiền được đầu tư trực tiếp từ cá nhân hay tổ chức nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau. Vốn đầu tư gián tiếp: Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài còn được gọi là vốn đầu tư ODA.
Hỗ trợ phát triển chính thức hay viện trợ phát triển chính thức được gọi tắt là ODA được bắt nguồn từ cụm từ tiếng Anh - Official Development Assistance. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về ODA: 7 Theo Uỷ ban Viện trợ Phát triển: Viện trợ phát triển chính thức ODA là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản Viện trợ và cho vay được ưu đãi, được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển, được các cơ quan chính thức của các Chính phủ trung ương và địa phương hoặc các cơ quan thừa hành của Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ tài trợ. Căn cứ Nghị định 114/2021/NĐ-CP ngày 16/12/2021 của Chính phủ về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn ODA là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội. vốn ODA gồm có các loại sau: - Vốn ODA không hoàn lại: Đây là loại nguồn vốn không cần hoàn trả lại cho các nhà tài trợ nước ngoài và thường được ưu tiên sử dụng cung cấp cho các dự án độc lập hoặc kết hợp với các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài.
Nguồn vốn ODA không hoàn lại này có thể được xem là một nguồn thu ngân sách của nhà nước. - Vốn vay ODA: Đây là loại vốn vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với những khoản vay có điều kiện ràng buộc có liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theo những quy định do nhà tài trợ nước ngoài đưa ra hoặc đạt được ít nhất 25% đối với các khoản vay không có điều kiện ràng buộc nào. Khái niệm dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn nước ngoài Dự án là tổng thể các hoạt động (quyết định và công việc) phụ thuộc lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian xác định với sự rằng buộc về nguồn lực trong bối cảnh không chắc chắn. Các phương diện chính của dự án: - Phương diện thời gian: Về phương diện này dự án là một quá trình bao gồm 3 giai đoạn kế tiếp nhau và chi phối nhau: Xác định, nghiên cứu và lập dự án; Giai đoạn triển khai dự án; Giai đoạn kết thúc dự án.
- Phương diện kinh phí dự án: Kinh phí dự án là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của dự án. Trung tâm của phương diện này là vấn đề vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư. 8 - Phương diện độ hoàn thiện của dự án (chất lượng dự án) Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, duy trì, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong khoản thời gian xác định. Dự án có vốn đầu tư nước ngoài được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 09/2016/TT-BKHĐT hướng dẫn về công tác theo dõi, kiểm tra và đánh giá đầu tư đối với hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.
Theo đó, Dự án có vốn đầu tư nước ngoài là dự án: a) Do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của pháp luật; b) Dự án Hợp đồng Hợp tác kinh doanh có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại Khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư. Cụ thể, các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ODA có những đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, các dự án có nguồn vốn ODA thường có mục tiêu phức tạp, mục tiêu hiệu quả kinh tế không phải là mục tiêu hàng đầu như các dự án khác. Thứ hai, các dự án có nguồn vốn ODA thường có thời gian dài nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện cũng như quản lý chi phí của dự án. Thứ ba, các dự án có nguồn vốn ODA có nhiều chủ thể quản lý.
Ngoài ban quản lý dự án và còn có chính phủ và các tổ chức phi chính phủ… Mặt khác, các dự án đầu tư từ nguồn vốn ODA có đa dạng các nhà tài trợ. Các nhà tài trợ bao gồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ cung cấp vốn ODA cho Bên Việt Nam để thực hiện các chương trình, dự án tại Việt Nam. Trong một số trường hợp đặc biệt thì mục tiêu của dự án còn bị phụ thuộc khá nhiều vào mục đích của nhà tài trợ. Khái niệm quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài 9 Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn.
Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và đánh giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án. Nói cách khác, quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép (Từ Quang Phương, 2005) Quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài là thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, tổ chức. Quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài của Ban quản lý dự án có những đặc điểm sau: - Chủ thể của quản lý dự án chính là Ban quản lý dự án. - Khách thể của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án).
Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của dự án. - Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Bản thân việc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích.
- Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện. Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo (Từ Quang Phương, 2005) 1. Nội dung quản lý dự án có vốn đầu tư nước ngoài 1.
iai đoạn chuẩn bị thực hiện dự án 1. Nghiên cứu cơ hội đầu tư (nhận dạng dự án, xác định dự án) 10 Mục đích của bước nghiên cứu này là xác định một cách nhanh chóng, nhưng ít tốn kém về các cơ hội đầu tư. Nội dung của việc nghiên cứu là xem xét các nhu cầu và khả năng cho việc tiến hành các công cuộc đầu tư, các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu thực hiện đầu tư.