CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước là chuyên đề đã được nhiều tác giả dày công nghiên cứu. Đến nay, đã có những công trình nghiên cứu, bài viết có tính ứng dụng cao trong thực tiễn. Qua tìm hiểu, gần đây cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn như: Theo nghên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Thùy (2019) về Quản lý của Ban Quản lý đầu tư xây dựng huyện Mường La, tỉnh Sơn La với tiến độ thi công các công trình nhà văn hóa.
Tác giả chỉ ra một số hạn chế về bộ máy, công tác lập kế hoạch, công tác triển khai thực hiện và kiểm tra giám sát từ đó tác gải đề xuất được một số giải pháp: Hoàn thiện bộ máy quản lý tiến độ thi công; Hoàn thiện lập kế hoạch tiến độ thi công; Hoàn thiện tổ chức thực hiện tiến độ thi công (công tác chọn nhà thầu, giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, công tác tuyên truyền, giải pháp đảm bảo nguồn vốn triển khia thực hiện); Giải pháp giám sát tiến độ thi công các công trình… Công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Mạnh Tuyên (2015) với đề tài: “Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Giang”. Tác giả luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2013. Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước của tỉnh Hà Giang trong giai đoạn tiếp theo. Công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Đức Thuần (2014) với đề tài: “Tăng cường quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Hà Nam”.
Luận văn đã đề cập đến thực trạng quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản cho nông nghiệp từ ngân sách Nhà nước trên địa bàn 4 c tỉnh Hà Nam từ năm 2009 đến năm 2013, đồng thời đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý vốn đầu tư XDCB tại Hà Nam. Từ đó đề xuất các biện pháp chấn chỉnh quản lý đầu tư và xây dựng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Vũ Hùng (2013) tại Học viện kỹ thuật quân sự “Nghiên cứu nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư trong lĩnh vực thuốc phóng thuốc nổ của ngành công nghiệp quốc phòng”. Tác giả đã tổng quan cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư trong lĩnh vực thuốc phóng thuốc nổ của ngành công nghiệp quốc phòng.
Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Hữu Đông (2016) tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam có tiêu đề: “Tăng cường quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh”. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Các giải pháp quản lý thực hiện dự án có đề cập nhưng chưa cụ thể. Đề tài luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Khánh Thiện (2016) tại Đại học Xây dựng có tiêu đề: “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội”.
Đề tài đã chỉ làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện QLDA cho Ban QLDA ĐTXD quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Ở một góc độ khác, tác giả Trần Tuấn Nghĩa 2017 trong “Quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước tại Hà Tĩnh” đã mô tả được thực trạng các dự án trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Tác giả cũng chỉ ra việc quản lý dự án cần được thể hiện trên các khía cạnh: quản lý chất lượng công trình, quản lý tiến độ thực hiện; công tác lập kết hoạch và quản lý chi phí đầu tư, quản lý an toàn lao động và quản lý bảo vệ môi trường. Từ những phát hiện trong thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước tại Hà Tĩnh Nhìn chung các công trình nghiên cứu ở trên tác giả đã làm rõ cả phần lý luận 5 c và thực tiễn quản lý dự án đầu tư xây dựng và quản lý vốn từ ngân sách nhà nước của một số đơn vị trong phạm vi nội bộ của đơn vị đó.
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào về Quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành của Tổng cục Hải quan. Vì vậy, đây là đề tài không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó. Cơ sở lý luận về quản lý các dự án đầu tư xây dựng 1. Một số khái niệm và đặc điểm về quản lý dự án đầu tư xây dựng 1.
Đầu tư Xuất phát từ cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu đã có những định nghĩa khác nhau về đầu tư. Có thể kể đến một số quan điểm như sau: Nhóm tác giả David Begg & cs. (2005) cho rằng đầu tư là việc các hãng mua sắm hàng hóa tư bản mới, đầu tư mang lại kết quả cho quá trình tái sản xuất. Theo Samuelson & William, 2006 nghiên cứu đầu tư ở nhiều khía cạnh như với hoạt động tạo vốn thì cho rằng, đầu tư gồm các nguồn bổ sung vào trữ lượng vốn của một quốc gia, và đầu tư chỉ thực sự xuất hiện khi tạo ra vốn thực tế.
Từ các nghiên cứu trên, chúng tôi cho rằng khái niệm đầu tư được hiểu là: Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực (vốn, tài sản vật chất, lao động trí tuệ, công nghệ…) trong hiện tại để tiến hành các hoạt động (tạo ra, khai thác, sử dụng tài sản…) để thu được các kết quả có lợi (gia tăng vốn, tài sản vật chất, trí tuệ, công nghệ…) nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Hoạt động đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân và đầu tư công cộng hay còn gọi là đầu tư công. Xây dựng cơ bản và đầu tư xây dựng cơ bản là những hoạt động với chức năng tạo ra tài sản cố định cho nền kinh tế thông qua các hình thức xây dựng mới, mở rộng, hiện đại hoá hoặc khôi phục các tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển.
Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát 6 c triển kinh tế - xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.
Xây dựng cơ bản là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị), kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực sản xuất phục vụ nhất định (Trần Viết Hưng, 2018). Đầu tư công Đầu tư công là một dạng của đầu tư và là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong chi tiêu Nhà nước hàng năm cũng như chiến lược phát triển lâu dài của Chính phủ ở mỗi quốc gia. Samuelson và William (2006) đã nhấn mạnh vai trò chi tiêu Chính phủ trong đó có đầu tư mua sắm hàng hóa và dịch vụ công là yếu tố quan trọng tác động đến tổng cầu. Đầu tư công và đầu tư tư nhân là nhân tố quan trọng trong phát triển kinh tế.
Trong đó, đầu tư công tập sẽ trung vào cơ sở hạ tầng như: đường xá, bến cảng, bưu chính viễn thông, trường học và các cơ sở y tế. Dự án đầu tư Dự án đầu tư được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau. Theo Luật Đầu tư (2014), dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Về mặt hình thức, dự án là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi 7 c tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài. Xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai (Nguyễn Bạch Nguyệt, 2015). Một số khái niệm cũng cần được tìm hiểu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài là dự án đầu tư xây dựng và dự án đầu tư phát triển.