CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG 1. Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng 1. Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ trong một khoảng thời gian xác định với nguồn lực đã cho trước trong bối cảnh không chắc chắn và có những rủi ro. Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cần phải có những yếu tố kết hợp với nhau như: nhân lực, vật lực, thiết bị máy móc, tiền bạc và thời gian.
Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng. [13] - Xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hồ sơ, tài liệu có liên quan trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch phải thực hiện để đạt được những mục tiêu trong tương lai. - Xét về góc độ quản lý: Dự án đầu tư xây dựng là công cụ để quản lý vốn, nhân lực, vật lực, thiết bị máy móc một cách có hiệu quả nhất trong một khoảng thời gian nhất định. - Xét về góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư xây dựng là một bản kế hoạch từ tổng thể đến chi tiết của việc đầu tư sản xuất, kinh doanh phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư, tài trợ.
Dự án đầu tư xây dựng là hoạt động kinh tế riêng biệt, nhỏ nhất trong toàn bộ kế hoạch hóa của nền kinh tế. - Xét về nội dung: Dự án đầu tư xây dựng là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, nó đặt ra những nhiệm vụ, hành động để tạo ra các kết quả cụ thể. Những nhiệm vụ và các hoạt động được thực hiện trong một thời gian biểu mà trách nhiệm các bộ phận cụ thể phải thực hiện sẽ tạo thành kế hoạch thực hiện dự án. 4 Như vậy dù xét ở bất kỳ góc độ nào dự án đầu tư xây dựng đều bao gồm 4 vấn đề chính đó là: mục tiêu của dự án; các kết quả; các hoạt động và các nguồn lực.
Trong 4 thành phần đó thì các kết quả được coi là mốc đánh dấu tiến độ của dự án. Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên theo dõi đánh giá các kết quả đạt được, nó là một trong những nhân tố quan trọng nhất để góp phần hoàn thành một dự án. Một số đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư xây dựng - Dự án phải có mục đích, mục tiêu rõ ràng: Mỗi dự án dầu tư xây dựng phải có mục đích, mục tiêu rõ ràng, các mục đích, mục tiêu phải đi từ tổng thể đến chi tiết. Trong mỗi nhiệm vụ cụ thể có một kết quả riêng biệt, khi tập hợp các kết quả cụ thể sẽ hình thành kết quả chung của dự án.
- Dự án bị hạn chế bởi nguồn lực: Dự án đầu tư xây dựng luôn được xác định bằng ngồn vốn cho trước và phải hoàn thành trong một thời gian xác định. Mọi nguồn lực đưa vào dự án đều được hạn chế tối đa với mục đích chi phí thấp nhất nhưng mang lại hiệu quả cao nhất. - Mỗi dự án đầu tư xây dựng khi hoàn thành phải trải qua một thời gian nhất định, thời gian hoàn thành dự án phụ thuộc vào quy mô, tính chất của dự án và nhiều yếu tố khác. Quá trình thi công một công trình xây dựng phải chịu sự tác động của thời tiết, khi hậu như: mưa, nắng, gió bão và địa hình, đia chất thủy văn.
Vì vậy điều kiện sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định luôn biến động và thường bị gián đoạn. Do những đặc điểm này trong quá trình tổ chức thi công xây dựng phải có kế hoạch tổ chức phân công hợp lý, tận dụng triệt để những máy móc thiết bị, vật tư, lao động, hạn chế tối đa những thay đổi, có biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học. - Dự án đầu tư xây dựng đều có những quá trình sản xuất, xây dựng rất phức tạp. Trong quá trình xây dựng có nhiều đơn vị cùng thi công trên một mặt bằng chật hẹp, có yêu cầu thi công nghiêm ngặt, quy trình kỹ thuật chặt chẽ, mỗi công trình khi hoàn thành đều gắn liền với đất.
Dự án đầu tư xây dựng thường chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị dự án, gia đoạn thực hiện dự án, giai đoạn đưa dự án vào 5 khai thác sử dụng. Giai đoạn chuẩn bị dự án và giai đoạn thực hiện dự án là hai giai đoạn tất yếu của quá trình đầu tư, thời gian kéo dài mà không tạo ra sản phẩm. - Dự án đầu tư xây dựng là một lĩnh vực có tính rủi ro lớn. Một trong những rủi ro thường gặp là do thời gian thi công dài hơn kế hoạch đề ra vì vậy gây thất thoát, lãng phí, thường làm tăng tổng mức đầu tư, những thất thoát này là những tổn thất mà nhà đầu tư không lường trước được khi lập dự án.
Các yếu tố khác như bão lụt, động đất, cháy nổ, chiến tranh có thể tàn phá công trình đầu tư. Sự thay đổi về cơ chế chính sách của nhà nước, thuế, lãi suất ngân hàng. Giá vật tư, vật liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc tăng cao cũng có thể gây thiệt hại cho nhà đầu tư. - Dự án đầu tư xây dựng thường liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp quản lý, vì vậy khi thực hiện phải có sự đồng bộ, phải quy định rõ trách nhiệm của các bên và có sự thống nhất giữa các bên tham gia vào dự án.
Nếu một trong các bên không có sự thống nhất sẽ ảnh hưởng đến tiến độ của dự án. Khi xây dựng dự án không làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và ảnh hưởng đến văn hóa xã hội cảnh quan môi trường. Từ một số đặc điểm cơ bản của dự án đầu tư xây dựng nêu trên sẽ là những cơ sở khoa học giúp cho việc đề xuất những biện pháp quản lý dự án thích hợp để đem lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội cao nhất khi đầu tư thực hiện dự án. Phân loại dự án đầu tư xây dựng theo quy mô Theo Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ, DA đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất công trình và được chia thành các loại gồm: DA quan trọng quốc gia; dự án nhóm A; DA nhóm B; DA nhóm C căn cứ vào tiêu chí quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tư công.
[8] - Dự án đặc biệt cấp quốc gia là những DA có tổng vốn đầu tư từ ba mươi nghìn tỷ đồng trở lên, trong đó vốn nhà nước từ mười một nghìn tỷ đồng trở lên. Những dự án thuộc các lĩnh vực như: nhà máy điện hạt nhân, dự án có công trình yêu cầu chuyên mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu thực nghiệm khoa học từ 50 hécta (ha) trở lên, rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 (ha) trở lên, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 (ha) trở lên. 6 Dự án, công trình sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 hécta (ha) trở lên. Dự án, công trình phải di dân tái định cư từ hai mươi nghìn người trở lên ở miền núi, từ năm mươi nghìn người trở lên ở các vùng khác.
Dự án, công trình đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh. Những dự án đặc biệt cấp quốc gia phải xin ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội. [15] - Dự án nhóm A: + Các dự án thuộc phạm vi an ninh, quốc phòng, bảo mật quốc gia, các dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ, các dự án này có ý nghĩa chính trị - xã hội đặc biệt quan trọng và thường là không quy định tổng mức đầu tư. + Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư từ 2.300 tỷ đồng trở lên.
+ Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, hóa dược, công trình cơ khí, bưu chính, viễn thông có tổng mức đầu tư từ 1.500 tỷ đồng trở lên. + Các dự án sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới có tổng mức đầu tư từ 1.000 tỷ đồng trở lên. + Các dự án y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình, du lịch, thể dục thể thao dân dụng từ 800 tỷ đồng trở lên. - Dự án nhóm B: + Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư từ 120 - 2.
+ Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, có tổng mức đầu tư từ 80 - 1. + Các dự án sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật có tổng mức đầu tư từ 60 - 1. + Các dự án y tế, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học, tin học, du lịch, thể dục thể thao, dân dụng từ 45 - 800 tỷ đồng. 7 - Dự án nhóm C: + Các dự án về đường bộ, đường sắt, sân bay, cảng biển, dầu khí, hóa chất, khai thác chế biến khoáng sản có tổng mức đầu tư dưới 120 tỷ đồng + Các dự án thủy lợi, cấp thoát nước, công trình hạ tầng kỹ thuật, kỹ thuật điện, sản xuất thiết bị thông tin, điện tử, hóa dược, công trình cơ khí, bưu chính, viễn thông có tổng mức đầu tư dưới 80 tỷ đồng.
+ Các dự án sản xuất nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, hạ tầng kỹ thuật có tổng mức đầu tư dưới 60 tỷ đồng.