Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG THCS THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Đổi mới PPDH là vấn đề được quan tâm ngay từ thời cổ đại. Trước công nguyên, Socrate (469-390 Tr.CN) - Hy Lạp đã từng khẳng định “Anh hãy tự biết lấy anh”, ông nêu phương pháp, trong đó người dạy chỉ giữ vai trò hướng dẫn, giúp đỡ, còn người học tự mình tìm ra tri thức. Ông gọi phương pháp này là “Phép đỡ đẻ”.
Khổng Tử (551-479 tr.CN) quan tâm đến việc kích thích tư duy của học sinh. Ông nói “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ được thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc, mà không suy ra ba góc khác thì không dạy nữa”. Đến thế kỷ XVI trở đi, có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra những tư tưởng tiến bộ.
Monteque (1533-1592) được mệnh danh là ông tổ sư phạm của Châu Âu đã chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với các sự vật trong đời sống hàng ngày. Muốn giảng dạy tốt “Phải cho học sinh chạy trước mà nhận xét” chứ không bắt buộc trẻ em nhắm mắt theo những nhận định chủ quan của người thầy. Comensky (1592-1670) đã cho rằng người thầy phải dạy thế nào để cho học sinh thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” [dẫn theo 10].
John Dewey (1859-1952) chủ trương phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ em. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn [dẫn theo10]. Vấn đề đổi mới PPDH không phải là những phát hiện mới mẻ mà vốn đã có từ lâu. Ở nước ta, những năm 1960 phong trào cải tiến PPDH đã xuất hiện 7 nhiều trường phổ thông.
Từ đó đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách viết về đổi mới PPDH nhằm phát huy năng lực sáng tạo, nghệ thuật sư phạm trong quá trình giảng dạy của người giáo viên để đạt hiệu quả cao nhất. Bởi vậy, đổi mới PPDH không phải là lớn lao vĩ đại mà đó là sự sử dụng hợp lý, sáng tạo cách dạy, cách truyền thụ để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất từ đó giúp người học vừa nắm chắc kiến thức, vừa có kỹ năng thực hành. Ở Việt Nam có nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu PPDH phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh trong các giáo trình giáo dục học hoặc trên tạp chí nghiên cứu giáo dục như Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc Bảo, Nguyễn Ngọc Quang, Thái Duy Tuyên, Đặng Thành Hưng,… Song song với đổi mới PPDH là vấn đề quản lý. Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ này là: Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên.
Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt… Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856- 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841- 1925), Pháp; Max Weber (1864- 1920), Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội [dẫn theo 10]. Các nhà khoa học Việt Nam đều tiếp cận QLGD, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng sự tổng hoà các tri thức của QLGD, Giáo dục 8 học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học…, tiếp thu lý luận giáo dục và dạy học hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học. Trong nước, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học: Tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: “Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” [12, tr 56].
Tác giả Trần Kiểm trong giáo trình “Quản lý giáo dục và trường học” dùng cho học viên cao học Giáo dục học đã xác định: “Quản lý hoạt động dạy học là quá trình dạy của giáo viên và quá trình học của học sinh. Đây là hai quá trình thống nhất gắn bó hữu cơ”.[14] Các cách tiếp hiện đại vận dụng vào QLGD như tiếp cận: “Quản lí chất lượng tổng thể trong giáo dục”; Quản lý dựa vào nhà trường;. cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng. Các thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học trong các trường học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, gia nhập WTO năm 2006 là một bước đi quan trọng trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế hơn bao giờ hết rất cần đến nguồn nhân lực được đào tạo bài bản, có chất lượng. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trong thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông. 9 Trả lời phỏng vấn báo Dân trí, ngày 25/8/2015 về “Đổi mới sách giáo khoa sau 2015 như thế nào”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) khẳng định: chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ… vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm, vận dụng được gì hơn là học sinh biết những gì. Tránh tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật… Nội dung dạy học ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/kinh viện. Ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải. Theo đó, PPDH thay đổi, dạy cách học, cách tìm kiếm và vận dụng, cách phát hiện và giải quyết vấn đề; đề cao sự hợp tác và sáng tạo… không nhồi nhét, chạy theo khối lượng kiến thức.
Kiểm tra - đánh giá cũng thay đổi theo hướng: xác nhận đúng năng lực của người học; đánh giá khả năng và hiệu quả vận dụng tổng hợp… do vậy phải coi trọng đánh giá trong suốt quá trình dạy - học và bằng nhiều hình thức; tập trung đổi mới thi - công nhận tốt nghiệp và tuyển sinh đại học. Trước những đổi mới đó ngành Giáo dục nói chung, bộ môn Ngữ văn đã quan tâm chỉ đạo nghiên cứu đổi mới PPDH, công trình nghiên cứu nổi bật có thể kể đến là “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn” của Nguyễn Hữu Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho, xuất bản năm 2007. [9] Ngày 05/01/2014, tại Trường ĐH Sư phạm Huế (thành phố Huế) đã diễn ra “Hội thảo khoa học quốc gia về dạy học ngữ văn ở trường phổ thông Việt Nam” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, thu hút hàng trăm nhà khoa học, giáo viên, nghiên cứu về văn đến tham dự. Tại Hội nghị đã có nhiều kiến giải về quản lý và đổi mới PPDH môn Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học.
10 Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống, Ngữ văn là môn học có “tuổi thọ” cao nhất ở nhà trường phổ thông. Suốt hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, khái niệm “đến trường”, “đi học” chủ yếu là học Ngữ văn. Trước hết là học lễ nghĩa và sau đó là để biết đọc, biết viết, từ đó mà học đạo lý, luân lý, hình luật, chính trị, triết lý … Có 3 vấn đề cần chú ý trong xác định một chiến lược dạy học nói chung và dạy Ngữ văn nói riêng, là: Người giáo viên cần biết tự thay đổi liên tục để thích nghi với những biến động của xã hội. Tự học và học suốt đời là một yêu cầu thực sự đối với mọi người, nhất là trí thức - những người thầy đứng trên bục giảng.
[21] Dạy học Ngữ văn cần tập trung hình thành cho học sinh phương pháp học và học phương pháp học. PPDH phải tạo cho học sinh tính hiếu kỳ, tò mò và sự đam mê để họ tự đi tìm và lý giải, qua đó mà hình thành năng lực. Không nhồi nhét kiến thức, không bắt nhớ máy móc, cần biết quên cái cụ thể, chi tiết; chỉ nhớ cách làm, cách xử lý vấn đề … giúp học sinh tự học, tự khám phá, tự kích thích sáng tạo. Giờ văn học trước hết hãy giúp học sinh niềm yêu thích, say mê văn chương, mong muốn tìm tòi, tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thế giới nghệ thuật rồi sau đó mới là những yêu cầu khác.