Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ -VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu viết về phối hợp giữa các bên liên quan trong hoạt động quản lý di tích Trên thế giới, quản lý các di tích lịch sử - văn hóa, các địa điểm di sản đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên liên quan mỗi bên đều có vai trò, trách nhiệm và quyền hạn khác nhau để thực hiện các nhiệm vụ hướng tới mục tiêu chung là gìn giữ và phát huy giá trị di tích. Trong thực tiễn QLDT, các bên liên quan cần phải phối hợp với nhau một cách chặt chẽ để thực hiện các hoạt động QLDT tuy nhiên có thể có những mâu thuẫn nảy sinh từ sự khác biệt văn hóa của họ hoặc vị trí của họ mà ảnh hưởng tới sự phối hợp giữa CBLQ trong hoạt động QLDT.
Bàn về vấn đề phối hợp/hợp tác giữa CBLQ trong hoạt động QLDT chưa được các tác giả nghiên cứu một cách đầy đủ mà chỉ xem xét ở một số khía cạnh như sau: Tác giả Aas, C. Ladkin và Fletcher, J trong bài Sự phối hợp giữa các bên liên quan và quản lý di sản [137] đề cập vấn đề phối hợp giữa CBLQ trong mối quan hệ quản lý di sản ở Luang Prabang, Lào. Mục đích của nghiên cứu là xem xét sự hợp tác và vai trò quản lý các bên liên quan cũng như sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn di sản và du lịch. Nghiên cứu xem xét một dự án của Chính phủ Na Uy với sự thúc đẩy hợp tác giữa bảo tồn di sản và du lịch thông qua sự tham gia của các bên liên quan.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra năm khía cạnh được khám phá, bao gồm: 1) kênh giao tiếp di sản và các nhóm du lịch, 2) tạo ra thu nhập cho bảo tồn và quản lý di sản, 3) thu hút sự phối hợp tham gia của cộng đồng trong việc ra quyết định, 4) Sự phối hợp của cộng đồng trong các hoạt động du lịch và đánh giá các mức độ, và 5) Sự thành công của hợp tác. Tác giả Anna Góral trong bài: Di sản văn hóa là tài nguyên chung được chia sẻ- vai trò của sự hợp tác giữa các bên liên quan trong quản lý di sản văn hóa [138] cho rằng vấn đề đặc biệt quan trọng trong bối cảnh quản lý di sản văn hóa hiện nay là vấn đề phát triển bền vững, trong đó các đối tượng di sản văn hóa được phân tích về các giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa. Quan điểm chung nhất được thông qua trong các cuộc tranh luận tập trung vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách văn hóa. 13 Ít quan tâm hơn đến cộng đồng địa phương và nhu cầu cũng như kỳ vọng của họ liên quan đến các nguồn di sản văn hóa sẵn có.
Từ đó, bài viết đã tập trung vào việc quản lý các đối tượng di sản văn hóa ở cấp địa phương và cách thức hoạt động của các đối tượng đó. Đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề về sự đa dạng của các bên liên quan đến di sản văn hóa và sự tương tác lẫn nhau của họ. Tác giả Bryan Garrod [144] cũng lập luận rằng do không có sự tham gia của các bên liên quan trong hệ thống di sản chính thức, nên luôn có những xung đột trong cách thức quản lý di sản trong nước. Như một cách giải quyết các xung đột thường nảy sinh từ việc quản lý các địa điểm di sản với lợi ích của nhiều bên liên quan, trong bài báo này đề xuất rằng một lý thuyết các bên liên quan, hướng dẫn quản lý, có thể được áp dụng khi quản lý các địa điểm di sản trong nước.P [152] đã xem xét ý nghĩa của sự tham gia của cộng đồng trong quản lý di sản, đặc biệt là khái niệm về một quá trình có sự tham gia có ý nghĩa trong việc bảo tồn.
Sự tham gia của cộng đồng sau đó trở thành một thành phần không thể thiếu của tiến trình bảo tồn đương đại. Quản lý các quá trình có sự tham gia của các bên là chìa khóa để cộng đồng tham gia thành công và nó đòi hỏi phải sử dụng các cơ chế để diễn giải và trưng cầu các quá trình này. Từ đó, tác giả đề xuất hai khuôn khổ để tăng cường các quá trình có sự tham gia của cộng đồng trong quản lý di sản. Đầu tiên là một khung diễn giải cho phép các nhà bảo tồn đánh giá các cấp độ khác nhau của các hoạt động có sự tham gia và ý nghĩa của từng cấp độ.
Mô hình thứ hai là một khuôn khổ tìm hiểu thực tế chung nhằm tăng cường nỗ lực hợp tác giữa cộng đồng địa phương và những người ra quyết định trong các chương trình tham vấn. Cũng đề cập đến vai trò của cộng đồng với tư cách là một bên liên quan trong quá trình quản lý di sản, tác giả John Carman và Marie Louise Stig Sonrensen [158] cho rằng để điều hành và quản lý di sản văn hóa cần có sự tương tác có ý nghĩa giữa các bên liên quan khác nhau. Bên liên quan là một người hoặc một nhóm người, tổ chức, hiệp hội hoặc công ty có thể tham gia vào kế hoạch quản lý và dự án, trực tiếp hoặc gián tiếp, tích cực hoặc tiêu cực. Trao đổi và lắng nghe nhu cầu của tất cả các bên liên quan cần diễn ra trong quá trình phát triển các kế hoạch quản lý, chiến lược, dự án hoặc bất kỳ quy trình lập kế hoạch nào cho dù chủ đề xuất hiện - di sản văn hóa, di sản thiên nhiên, quy hoạch thành phố, v.
Nghiên cứu của Waayers và Newsome [173] khám phá về bản chất của sự phối hợp giữa CBLQ trong trường hợp du lịch Rùa ở Ningaloo, Tây Úc. Áp dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, các bên liên quan chính của Nhóm cố vấn Rùa Ningaloo 14 đã được xác định bằng kỹ thuật quả bóng tuyết và nghiên cứu hành động. Khuôn khổ để khám phá bản chất phối hợp được phát triển dựa vào nghiên cứu của Bramwell và Sharrman (1999) và Mandell (1999). Nghiên cứu này khẳng định rằng sự thành công của phối hợp do xây dựng quan hệ đối tác và sự tin tưởng, công nhận sự phụ thuộc lẫn nhau, xây dựng tầm nhìn tập thể và mục tiêu cũng như cam kết giữa các bên liên quan trong quy trình cấu trúc.
Nghiên cứu của Komppula [159] về vai trò của các doanh nhân trong phát triển năng lực cạnh tranh ở các điểm đến di sản. Dữ liệu bao gồm sáu nghiên cứu điển hình và chín cuộc phỏng vấn bán cấu trúc giữa các doanh nhân và nhà quản lý di sản tại một địa phương ở Phần Lan. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những thách thức trong phát triển năng lực cạnh tranh điểm đến di sản, đồng thời kêu gọi sự phối hợp giữa các doanh nghiệp nhỏ trong việc tăng cường điểm đến di sản. Nghiên cứu của Jiang và Ritchie [156] về sự phối hợp giữa CBLQ với bối cảnh thảm họa du lịch và các mối đe dọa du lịch từ cơn bão Marcia ở Queensland, Úc.
Nghiên cứu này tập trung vào điều tra: 1) động cơ của các bên liên quan để phối hợp quản lý thiên tai, 2) các yếu tố tạo điều kiện hoặc cản trở việc xây dựng sự phối hợp giữa CBLQ và 3) các yếu tố thành công và thách thức để phối hiệu quả. Kết quả được rút ra từ các cuộc phỏng vấn sâu các bên liên quan chủ chốt đã trực tiếp tham gia vào quản lý thảm họa du lịch. Các động lực để xây dựng sự phối hợp được xác định có liên quan đến nguồn lực và các mối quan hệ. Kinh nghiệm và mối quan hệ trong quá khứ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển quá trình phối hợp sau một thảm họa.
Giao tiếp nhất quán và sự tin tưởng là hai yếu tố chính của sự phối hợp hiệu quả, trong khi nhu cầu cạnh tranh và mối quan hệ kém là những rào cản chính. Kết quả nghiên cứu này giúp hiểu rõ hơn về sự phối hợp giữa CBLQ trong quản lý thảm họa du lịch. Nghiên cứu của Saito và Ruhanen [164] về yếu tố quyền lực trong hợp tác giữa CBLQ trong quản lý di sản, những kiểu quyền lực và người nắm giữ quyền lực. Phối hợp giữa CBLQ được thừa nhận là một phần quan trọng trong quy hoạch và thực hiện quản lý điểm đến di sản.
Tuy nhiên, không phải các bên liên quan đều có cùng mức độ quyền lực và ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp hoặc ra quyết định, và một số nhóm có thể có quyền lực ảnh hưởng nhiều hơn đến quá trình phối hợp. Nghiên cứu xác định và làm rõ các loại quyền lực khác nhau ảnh hưởng đến phối hợp giữa CBLQ trong việc lập kế hoạch và quản lý điểm đến di sản và xác định các nhóm bên liên quan nào nắm giữ những quyền lực này. Nghiên cứu trường hợp được thực hiện và dữ liệu được thu thập từ các nguồn thứ cấp có sẵn công khai. Kết quả nghiên cứu cho thấy có bốn loại quyền lực 15 khác nhau, bao gồm quyền lực cưỡng chế, quyền lực hợp pháp, quyền lực quản lý và quyền lực thẩm quyền.
Quyền lực cưỡng chế chủ yếu do chính phủ và các cơ quan công quyền nắm giữ trong khi tổ chức quản lý điểm đến và các doanh nghiệp tư nhân sở hữu quyền lực hợp pháp mạnh mẽ. Quyền lực quản lý do Nhà nước, cộng đồng địa phương, cơ sở giáo dục đại học. Quyền lực thẩm quyền do các công ty tư vấn sở hữu. Nghiên cứu của Manaf và cộng sự [161] về chương trình du lịch điển hình từ kinh nghiệm thực tiễn thực hiện dựa vào cộng đồng tại làng du lịch Nglanggeran, Gunungkidul Regency, Yogyakarta, Indonesia, được đánh giá là thành công và bền vững.
Trọng tâm chính của nghiên cứu này là làm thế nào phối hợp và tham gia của các bên liên quan giữa các tổ chức, cộng đồng địa phương, đặc biệt là thanh niên khởi xướng, đã góp phần vào sự bền vững của chương trình. Dữ liệu và thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn sâu, quan sát và nghiên cứu tài liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy cộng đồng địa phương có vai trò chính trong thực hiện chương trình. Từ đó, nghiên cứu này đã khẳng định đây là chìa khóa cho sự thành công và bền vững.
Nghiên cứu của Wondirad và cộng sự [174] về phối hợp giữa CBLQ trong phát triển du lịch sinh thái bền vững tại miền Nam Ethiopia.