Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa (Mã số: 9229042) với đề tài "Quản lý di tích lịch sử - văn hóa ở tỉnh Thái Bình" do nghiên cứu sinh Nguyễn Tri Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trịnh Thị Minh Đức tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2023). Nghiên cứu định vị trong bối cảnh di sản văn hóa vật thể đang chịu áp lực gay gắt giữa bảo tồn nguyên trạng và khai thác phát triển kinh tế - xã hội, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc chuyển dịch từ mô hình hành chính đơn tuyến sang mô hình quản trị tương tác đa bên.
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) được xác định rõ ràng: các công trình trước đây tại địa phương (như nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Phát, 1998; Bùi Đăng Việt, 2010; Đàm Thị Thu Thủy, 2016; Vũ Mạnh Hùng, 2017) chủ yếu dừng lại ở việc miêu thuật giá trị lịch sử - kiến trúc đơn lẻ hoặc phân tích công tác quản lý hành chính nhà nước thuần túy ở cấp độ một huyện. Hoàn toàn thiếu vắng các công trình tiếp cận liên ngành áp dụng Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) để giải mã cấu trúc phối hợp, xung đột lợi ích và hiệu quả vận hành của mạng lưới quản lý di tích trên toàn bộ địa bàn cấp tỉnh.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học được hệ thống hóa:
- Câu hỏi 1 (RQ1): Các bên liên quan nào tham gia vào hoạt động quản lý di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Bình và vai trò, thẩm quyền của họ được xác lập ra sao?
- Câu hỏi 2 (RQ2): Nội dung, hình thức và cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý di tích hiện nay diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 3 (RQ3): Hiệu quả phối hợp giữa các bên liên quan đạt mức độ nào khi đo lường qua các tiêu chí quản trị di sản chuyên biệt?
- Câu hỏi 4 (RQ4): Cần xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi nào để tháo gỡ điểm nghẽn, tối ưu hóa sự phối hợp giữa các chủ thể?
- Giả thuyết nghiên cứu (H1): Sự phối hợp đồng bộ, cân bằng giữa chủ thể quản lý nhà nước và khu vực cộng đồng sẽ quyết định trực tiếp đến tính bền vững của công tác bảo tồn; nếu cơ chế liên kết xuất hiện xung đột thẩm quyền hoặc phân bổ lợi ích bất bình đẳng, hiệu quả quản lý di tích sẽ suy giảm nghiêm trọng.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp chặt chẽ giữa Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984; Garrod, 2003), Lý thuyết quản trị di sản công cộng và các nguyên tắc bảo tồn di tích quốc tế. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian toàn tỉnh với 2.969 di tích lịch sử - văn hóa, tập trung sâu vào 3 địa bàn trường hợp đại diện (Thành phố Thái Bình, huyện Hưng Hà, huyện Vũ Thư) trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2022 (tương ứng hai kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và XX). Đóng góp mang tính đột phá của công trình là lượng hóa thực trạng phối hợp trên 6 nhóm nhiệm vụ cốt lõi, làm sáng tỏ cơ chế tương tác giữa 2 nhóm chủ thể lớn (Nhà nước và Cộng đồng), mang lại giá trị thực tiễn đối với chính sách văn hóa địa phương.
Literature Review và Positioning
Tổng quan nghiên cứu quốc tế chỉ ra các dòng học thuật chính về quản trị di sản. Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào mối quan hệ cộng sinh giữa bảo tồn và du lịch thông qua sự tham gia của các bên liên quan. Tiêu biểu là công trình của Aas, Ladkin và Fletcher (2005) tại Luang Prabang (Lào), khám phá 5 chiều kích hợp tác: thiết lập kênh giao tiếp, tạo dòng thu nhập tái đầu tư, lôi cuốn cộng đồng ra quyết định, phân định mức độ tham gia và đánh giá sự thành công của quan hệ đối tác. Dòng thứ hai nhấn mạnh bản chất di sản là tài nguyên chung cần cơ chế đồng quản trị (Anna Góral, 2017; Bryan Garrod, 2003; Chirikure et al., 2010), trong đó Garrod chỉ ra rằng sự vắng mặt của cộng đồng trong hệ thống hoạch định chính thức là nguồn gốc phát sinh xung đột quyền lợi kéo dài.
Tranh luận học thuật quốc tế nổi bật xoay quanh hai luồng quan điểm đối lập:
- Quan điểm vị nhà nước (State-centric conservation): Cho rằng quyền quản lý tối cao phải thuộc về thiết chế công quyền nhằm đảm bảo tính nguyên gốc, tính pháp lý và quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt trong trùng tu (nhấn mạnh theo tinh thần Hiến chương Venice 1964).
- Quan điểm quản trị dựa vào cộng đồng (Community-based heritage management): Đại diện bởi John Carman và Marie Louise Stig Sørensen (2009), Manaf et al. (2018 tại Indonesia), khẳng định cộng đồng bản địa là chủ thể sáng tạo, thực hành và bảo vệ di sản hữu hiệu nhất; việc tước bỏ quyền tự quyết của họ sẽ làm triệt tiêu sức sống di sản.
Luận án định vị nghiên cứu vào khoảng trống giao thoa: vận dụng khung phân tích quyền lực của Saito và Ruhanen (2014) – phân loại 4 dạng quyền lực (cưỡng chế, hợp pháp, quản lý, thẩm quyền) – để phân tích thực tiễn chuyển đổi mô hình quản lý di sản tại một quốc gia đang phát triển có thể chế chính trị tập trung như Việt Nam. So sánh với nghiên cứu của Waayers và Newsome (2010) tại Ningaloo (Tây Úc) về xây dựng niềm tin đối tác và nghiên cứu của Wondirad et al. (2020) tại Ethiopia về sự đổ vỡ hệ sinh thái do thiếu tương tác đa bên theo khung Triple Bottom Line, luận án của Nguyễn Tri Phương đã làm rõ tính đặc thù của bối cảnh văn hóa làng xã vùng đồng bằng sông Hồng, nơi thiết chế nhà nước và thiết chế tự quản truyền thống đan xen phức tạp.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng Lý thuyết các bên liên quan của R. Edward Freeman (1984) sang lĩnh vực quản lý di sản văn hóa công cộng tại Việt Nam. Thay vì xem các bên liên quan chỉ gồm nhà đầu tư và khách hàng như trong quản trị kinh doanh, luận án tái cấu trúc hệ thống chủ thể thành hai cực tương tác biện chứng: Khu vực Nhà nước (cơ quan lập pháp, quản lý chuyên ngành từ Bộ VHTTDL, UBND các cấp, Sở VHTTDL, Bảo tàng tỉnh đến Phòng VHTT cấp huyện, Ban VHTT cấp xã) và Khu vực Cộng đồng (cộng đồng dân cư sở tại, người quản thủ trực tiếp như thủ từ, ban khánh tiết, trụ trì, các nhà khoa học, doanh nghiệp lữ hành và khách tham quan).
Công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm minh chứng cho luận điểm của C. Mác: "Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động... Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, cũng như một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng". Khi quy mô di sản lên tới hàng nghìn điểm tích, sự thiếu vắng "nhạc trưởng điều phối" giữa các chủ thể sẽ dẫn tới tình trạng chồng chéo chức năng hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba trục lý thuyết: Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết phân cấp quản lý văn hóa và Lý thuyết tương tác xã hội. Khung này xác lập 6 nhiệm vụ quản lý cốt lõi cần sự phối hợp đa chiều:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử - văn hóa.
- Xây dựng, phê duyệt và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát huy giá trị di tích.
- Tổ chức triển khai các hoạt động chuyên môn bảo vệ, kiểm kê, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ và người trông coi di tích.
- Huy động, quản lý và phân bổ các nguồn lực tài chính (ngân sách nhà nước và xã hội hóa).
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết tranh chấp, khiếu nại và xử lý vi phạm pháp luật.
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được giới hạn trong mối quan hệ quản lý trực tiếp các di tích lịch sử - văn hóa vật thể được xếp hạng và nằm trong danh mục kiểm kê chính thức, phản ánh động thái tương tác chịu sự điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001, sửa đổi 2009).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan thực chứng kết hợp giải thích luận (interpretivism), triển khai thiết kế nghiên cứu trường hợp phức hợp (multiple-case study design) với phương pháp hỗn hợp thiên định tính. Nghiên cứu thực hiện phân tích đa tầng (multi-level analysis): cấp vĩ mô (chính sách toàn tỉnh), cấp trung mô (cơ chế điều phối cấp huyện/thành phố) và cấp vi mô (thực hành bảo tồn tại từng di tích cụ thể).
Tiêu chí chọn mẫu 3 địa bàn trường hợp được thiết kế có chủ đích nhằm đảm bảo tính đại diện tối đa cho các hình thái phát triển kinh tế - xã hội và mô hình quản lý:
- Thành phố Thái Bình: Đại diện cho khu vực đô thị hóa nhanh nhất tỉnh, tập trung 100 di tích (3 cấp quốc gia, 28 cấp tỉnh, 66 chưa xếp hạng), chịu áp lực biến đổi không gian đô thị và tranh chấp đất đai di tích.
- Huyện Vũ Thư: Đại diện cho vùng nông thôn thuần nông, chuyển dịch kinh tế chậm, quản lý 381 di tích (1 di tích quốc gia đặc biệt là Chùa Keo, 13 cấp quốc gia với 18 điểm, 55 cấp tỉnh với 67 điểm, 295 chưa xếp hạng).
- Huyện Hưng Hà: Đại diện cho khu vực chuyển đổi công nghiệp - dịch vụ năng động, giàu trầm tích lịch sử với 598 di tích (1 di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ và lăng mộ các vua triều Trần với 4 điểm, 17 cấp quốc gia với 29 điểm, 86 cấp tỉnh với 121 điểm, 444 chưa xếp hạng) cùng di chỉ khảo cổ học quy mô lớn Hành cung Lỗ Giang.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập dữ liệu áp dụng kỹ thuật tam giác giác hóa (data and methodological triangulation):
- Phân tích văn bản, tài liệu thứ cấp: Rà soát toàn bộ hệ thống văn bản pháp quy từ Hiến chương Venice 1964, Luật Di sản văn hóa (2001, 2009), Thông tư số 08/2021/TT-BVHTTDL, các nghị quyết của Tỉnh ủy và quyết định của UBND tỉnh Thái Bình giai đoạn 2015–2022; báo cáo kiểm kê di sản của Bảo tàng tỉnh.
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Thực hiện điền dã quan sát và điền dã tham dự tại các di tích trọng điểm (Chùa Keo, Đền Trần, Hành cung Lỗ Giang, Đền Tiên La, Đền Đồng Bằng, Đình An Cố).
- Phỏng vấn sâu (In-depth interview): Phỏng vấn bán cấu trúc các nhóm đối tượng đại diện: lãnh đạo Sở VHTTDL, cán bộ chuyên môn Bảo tàng tỉnh, lãnh đạo Phòng VHTT 3 địa bàn, Chủ tịch/Phó Chủ tịch UBND xã, Trưởng ban quản lý di tích, các thủ từ, sư trụ trì, doanh nghiệp lữ hành và người dân địa phương.
- Bộ công cụ đánh giá hiệu quả phối hợp: Xây dựng hệ thống bảng hỏi và thang đo tiêu chí chuyên biệt đo lường 6 nhóm nhiệm vụ quản lý trên thang 3 bậc định lượng hóa: Chưa tốt - Bình thường - Tốt.
Data và phân tích
Tổng thể dữ liệu thống kê phản ánh toàn diện hệ thống di sản của tỉnh Thái Bình tính đến tháng 12/2022:
- Toàn tỉnh có 2.969 di tích, gồm: 02 di tích quốc gia đặc biệt (Chùa Keo xếp hạng năm 2012, Khu lăng mộ và đền thờ các vua Trần xếp hạng năm 2014); 114 di tích cấp quốc gia (159 điểm); 550 di tích cấp tỉnh (667 điểm); 2.138 di tích chưa xếp hạng.
- Sự phân bố di tích theo địa bàn: Hưng Hà dẫn đầu với 598 di tích, tiếp theo là Quỳnh Phụ (487 di tích), Thái Thụy (434 di tích), Đông Hưng (407 di tích), Vũ Thư (381 di tích), Kiến Xương (314 di tích), Tiền Hải (248 di tích), và TP. Thái Bình (100 di tích).
- Dữ liệu định tính từ các biên bản phỏng vấn và tư liệu điền dã được mã hóa chủ đề (thematic analysis) kết hợp phân tích đối chiếu chéo (cross-case synthesis) giữa 3 địa bàn để xác định các mô thức phối hợp điển hình và các điểm đứt gãy thể chế.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án chỉ ra 4 phát hiện căn bản mang tính thực chứng cao:
Thứ nhất, tồn tại sự bất cân xứng quyền lực và thông tin giữa khu vực Nhà nước và Cộng đồng. Cơ quan công quyền nắm giữ quyền lực cưỡng chế và quyền lực hợp pháp nhưng thiếu hụt nguồn nhân lực giám sát trực tiếp tại cơ sở; ngược lại, cộng đồng và các vị quản thủ (thủ từ, sư trụ trì) nắm giữ quyền quản lý thực tế hàng ngày nhưng thiếu kiến thức chuyên sâu về bảo tồn theo Luật Di sản văn hóa. Điều này dẫn tới hiện tượng "vừa thừa vừa thiếu" trong điều hành.
Thứ tư, đứt gãy trong liên kết liên ngành và kiểm soát tài chính xã hội hóa. Sự phối hợp giữa ngành văn hóa với các cơ quan Tài chính, Xây dựng, Tài nguyên & Môi trường, Tôn giáo còn mang tính sự vụ, thiếu quy chế bắt buộc. Nguồn thu từ công đức, tài trợ tại các di tích lớn (như Đền Trần, Chùa Keo, Đền Đồng Bằng) huy động được nguồn lực xã hội hóa rất lớn nhưng cơ chế quản lý, giám sát và tái phân bổ cho việc tu bổ các di tích xuống cấp tại địa phương còn thiếu minh bạch, gây mâu thuẫn giữa BQL di tích với chính quyền xã và cộng đồng sở tại.
Thứ ba, sự thiếu đồng nhất trong kết quả thực hiện các nhiệm vụ quản lý. Dữ liệu đánh giá hiệu quả phối hợp cho thấy: nhiệm vụ thanh tra, xử lý vi phạm và đào tạo cán bộ bị đánh giá ở mức Chưa tốt; công tác lập quy hoạch và phân bổ nguồn lực đạt mức Bình thường; trong khi hoạt động kiểm kê di tích và tổ chức lễ hội truyền thống đạt mức Tốt nhờ sự tham gia tự giác của nhân dân.
Thứ tư, nguy cơ xâm hại tính nguyên gốc di tích do áp lực tu bổ tự phát. Tại một số di tích cấp tỉnh và chưa xếp hạng, việc phối hợp lỏng lẻo giữa BQL cấp xã với cơ quan chuyên môn cấp tỉnh đã dẫn tới các sai phạm trong việc "làm mới", thay thế cấu kiện gỗ cổ bằng vật liệu hiện đại, làm biến dạng di tích kiến trúc nghệ thuật trước khi cơ quan quản lý nhà nước kịp phát hiện, can thiệp.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận: Bổ sung luận cứ thực tiễn làm dày thêm Lý thuyết quản trị di sản đa bên tại các nước xã hội chủ nghĩa đang chuyển đổi kinh tế, chứng minh tính tất yếu của việc chuyển từ quản lý áp đặt (top-down) sang quản trị phối hợp đồng thuận (collaborative governance).
- Về mặt phương pháp luận: Khung tiêu chí đánh giá hiệu quả phối hợp 6 nhiệm vụ do tác giả xây dựng có khả năng chuyển giao và áp dụng để đánh giá hiệu lực quản lý di sản tại các tỉnh thuộc châu thổ Bắc Bộ có cấu trúc văn hóa tương đồng (Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên).
- Về mặt thực tiễn và chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho UBND tỉnh Thái Bình và Sở VHTTDL ban hành "Quy chế phối hợp liên ngành trong quản lý, bảo quản, tu bổ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh", trong đó phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn và tỷ lệ phân chia nguồn thu công đức minh bạch.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn không gian và dữ liệu: Dù khảo sát 3 địa bàn điển hình nhưng chưa thể bao quát chi tiết toàn bộ 2.969 di tích trên 8 huyện, thành phố; các dữ liệu thống kê tài chính công đức chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính, chưa tiếp cận đầy đủ các nguồn thu chi tự quản không chính thức của làng xã.
- Giới hạn phương pháp: Chưa ứng dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích định lượng nâng cao (như Structural Equation Modeling - SEM hay Fuzzy-set QCA) để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố phối hợp đến tuổi thọ di tích.
Chương trình nghiên cứu tiếp theo (Future Research Agenda) cần mở rộng:
- Nghiên cứu mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong bảo tồn di sản gắn với chuỗi giá trị du lịch văn hóa bền vững tại Thái Bình.
- Ứng dụng công nghệ số và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xây dựng bản đồ số hóa di sản và cổng thông tin tương tác đa bên phục vụ giám sát cộng đồng.
- Nghiên cứu so sánh xuyên vùng giữa đồng bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung về cơ chế kiểm soát nguồn lực tài chính tâm linh tại các di tích lịch sử.
Tác động và ảnh hưởng
Nghiên cứu mang lại tác động học thuật và thực tiễn rõ rệt:
- Tác động học thuật: Định hình một hướng tiếp cận mới trong chuyên ngành Quản lý văn hóa tại Việt Nam – tiếp cận quản trị di sản từ góc độ mạng lưới liên kết chủ thể thay vì liệt kê sự vụ hành chính; dự kiến tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các luận văn, luận án về bảo tồn di sản Bắc Bộ.
- Tác động chính sách và ngành: Cung cấp cơ sở thực chứng giúp Sở VHTTDL tỉnh Thái Bình rà soát, hoàn thiện Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di tích giai đoạn 2025–2030; hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch lữ hành thiết kế các tour du lịch di sản (Chùa Keo - Đền Trần - Hành cung Lỗ Giang) có sự chia sẻ lợi ích công bằng với người dân bản địa.
- Lợi ích xã hội: Nâng cao nhận thức pháp lý của người trông coi di tích, trao quyền thực chất hơn cho cộng đồng địa phương trong việc tham gia giám sát các dự án trùng tu, giảm thiểu các vụ việc xâm hại di sản văn hóa.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học giả văn hóa: Tiếp cận một khung phân tích lý thuyết có tính hệ thống và bộ tiêu chí đánh giá phối hợp thực chứng để phát triển các đề tài liên ngành.
- Nhà hoạch định chính sách (Cục Di sản văn hóa, UBND tỉnh, Sở VHTTDL): Nhận diện các điểm nghẽn thể chế, khoảng trống pháp lý trong công tác phân cấp quản lý để điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật.
- Cán bộ quản lý văn hóa cơ sở (Phòng VHTT, UBND xã, BQL di tích): Có được cẩm nang hướng dẫn nhận diện các bên liên quan và quy trình phối hợp xử lý xung đột trong tu bổ, quản lý tài chính di tích.
- Cộng đồng cư dân và người thực hành di sản: Được xác lập vị thế chủ thể hợp pháp trong chuỗi giá trị di sản, đảm bảo quyền được thông tin, quyền tham vấn và quyền thụ hưởng lợi ích từ di sản.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc bản địa hóa Lý thuyết các bên liên quan (Freeman, 1984) vào cấu trúc quản lý di sản văn hóa vật thể tại một địa phương đồng bằng Bắc Bộ. Luận án đã giải mã mô hình tương tác giữa hai khối chủ thể "Nhà nước" và "Cộng đồng" qua 6 chức năng quản lý, chứng minh rằng sự phối hợp thực chất chỉ xảy ra khi quyền lực hành chính nhà nước dung hòa được với quyền lực xã hội và tập quán tự quản của làng xã truyền thống.
2. Điểm mới về phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?
Trả lời: Khác với các nghiên cứu đơn tuyến trước đây của Nguyễn Ngọc Phát (1998) hay Đàm Thị Thu Thủy (2016) chỉ sử dụng phương pháp mô tả định tính hành chính tại một huyện, luận án thiết kế nghiên cứu trường hợp phức hợp (multiple-case study) so sánh đối chiếu 3 địa bàn có đặc trưng kinh tế - xã hội tương phản (TP. Thái Bình - đô thị hóa; Vũ Thư - thuần nông; Hưng Hà - phát triển năng động). Đồng thời, tác giả đã sáng tạo và chuẩn hóa một khung tiêu chí đánh giá hiệu quả phối hợp chuyên biệt chia thành 3 mức độ, chuyển hóa các nhận định cảm tính thành các dữ liệu khoa học có thể kiểm chứng.
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tế là gì?
Trả lời: Phát hiện bất ngờ là nguồn lực xã hội hóa cho di tích ở Thái Bình rất dồi dào nhưng lại tỷ lệ nghịch với hiệu quả phối hợp quản lý chuyên môn. Tại nhiều di tích, nguồn vốn huy động trong dân càng lớn thì nguy cơ di tích bị "làm mới", bị phá hủy tính nguyên gốc diễn ra càng nhanh do sự thiếu vắng sự hướng dẫn kỹ thuật kịp thời từ cơ quan quản lý chuyên ngành cấp tỉnh và sự tự ý quyết định của ban khánh tiết làng xã.
4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (replication protocol) không?
Trả lời: Có. Hệ thống bảng hỏi phỏng vấn sâu, tiêu chí lựa chọn địa bàn nghiên cứu trường hợp và đặc biệt là Khung tiêu chí đánh giá 6 nhóm nhiệm vụ phối hợp quản lý di tích [được đính kèm tại Phụ lục 7] tạo thành một quy trình chuẩn hóa hoàn chỉnh, cho phép các nhà nghiên cứu khác có thể tái lập và áp dụng trực tiếp tại 62 tỉnh, thành phố còn lại của Việt Nam.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?
Trả lời: Luận án phác thảo lộ trình 10 năm tập trung vào ba trụ cột: (1) Thể chế hóa và kiểm định định lượng mô hình đồng quản lý di sản (co-management) tại các di tích quốc gia đặc biệt; (2) Xây dựng cơ chế tài chính công - tư (PPP) trong phục hồi các hành cung, di chỉ khảo cổ học thời Trần; (3) Thiết lập hệ sinh thái số hóa quản trị di sản tích hợp dữ liệu lớn phục vụ giám sát thời gian thực sự phối hợp liên ngành.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tri Phương đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những dấu ấn học thuật cốt lõi:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa từ góc độ tiếp cận Lý thuyết các bên liên quan.
- Xác lập bức tranh toàn cảnh về 2.969 di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thái Bình, chỉ rõ đặc trưng phân bố và các giá trị nổi bật của 2 di tích quốc gia đặc biệt, 114 di tích cấp quốc gia và 550 di tích cấp tỉnh.
- Thiết lập khung phân tích và bộ tiêu chí đánh giá thực chứng hiệu quả phối hợp giữa khu vực Nhà nước và Cộng đồng trên 6 nhiệm vụ quản lý trọng yếu.
- Phát hiện và lý giải sâu sắc các nút thắt thể chế, sự bất cân xứng quyền lực và mâu thuẫn lợi ích trong công tác tu bổ, quản lý tài chính xã hội hóa di tích.
- Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị xác đáng nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế bền vững.
- Mở ra các hướng nghiên cứu mới về kinh tế di sản, chuyển đổi số trong quản trị văn hóa và quản lý di sản dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.