phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục thì luận văn được bố cục làm 03 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý các nguồn thu từ đất; Chƣơng 2: Phân tích thực trạng quản lý các nguồn thu từ đất trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh; Chƣơng 3: Giải pháp tăng cường quản lý các nguồn thu từ đất trên địa bàn 7 thành phố Hà Tĩnh. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC NGUỒN THU TỪ ĐẤT 1.1 Các nguồn thu từ đất và quản lý nguồn thu từ đất 1.1 Các nguồn thu từ đất 1.1 Khái niệm về các nguồn thu từ đất Nguồn thu từ đất là nguồn thu được hình thành từ đất thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu của xã hội đó. Nói cách khác, các nguồn thu từ đất đai là các khoản tài chính liên quan đến đất đai mà người sử dụng đất đai phải thực hiện với Nhà nước theo pháp luật quy định. Đó là các khoản thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai, phí và lệ phí trong quản lý và sử dụng đất đai …v.
Thu thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với sử dụng đất đai là thực hiện quyền sở hữu của nhà nước về đất đai. Thông qua các khoản thu khác nhau do nhà nước quy định, nhà nước huy động, điều tiết một phần thu nhập của người sử dụng đất, tăng thu cho NSNN, tạo sự công bằng xã hội giữa những chủ thể sử dụng đất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia, hạn chế suy thoái tài nguyên đất, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường bất động sản, góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế.2 Đặc điểm của các nguồn thu từ đất Thứ nhất, nguồn thu từ đất luôn gắn với quan hệ sở hữu đất đai: Muốn đất đai đem lại lợi ích dưới hình thái tiền tệ thì trước hết các chủ thể phải nắm quyền sở hữu đất đai. Khi quan hệ sở hữu được xác lập đối với đối tượng là đất đai, các chủ thể sở hữu mới có cơ sở để thực hiện lợi ích của mình, thông thường quan hệ sở hữu đó phải được thể chế hóa thành chế độ sở hữu về đất đai. Về mặt nguyên lý, chế độ sở hữu đất đai của nước ta là không thừa nhận đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên 9 lợi ích từ nguồn thu từ đất mà chủ thể sở hữu khai thác được phải được phục vụ cho lợi ích của nhân dân.
Thứ hai, nguồn thu từ đất chỉ hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường: Nguồn lực tài chính thu từ đất được hình thành từ nguồn lực đất đai thông qua quan hệ kinh tế giữa các chủ thể trong một xã hội nhất định và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu của xã hội đó. Tài chính và nguồn lực tài chính phản ánh mặt quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội, cụ thể là biểu hiện của quan hệ phân phối, song vì đó là sự phân phối giá trị cho nên quan hệ đó chỉ được thực hiện trong nền kinh tế hàng hóa. Tuy nhiên biểu hiện rõ nhất của mặt phân phối và thực hiện giá trị từ các nguồn lực là trong nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao hay trong nền kinh tế thị trường vì kinh tế thị trường mới có khả năng biến mọi nguồn lực trở thành hành hóa và biến các hàng hóa đó trở thành những biểu hiện của giá trị, mặc dù có thể chúng ko phải do lao động làm ra. Với ý nghĩa như vậy, các nguồn thu từ đất chỉ có thể được hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường, khi mà các quan hệ đất đai được thị trường hóa, tức là chúng có thể được mua bán và trao đổi trên thị trường.3 Vai trò của các nguồn thu từ đất đai Một là, các nguồn thu từ đất góp phần đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước, là nguồn thu ổn định bền vững của ngân sách địa phương.
Hai là, các nguồn thư từ đất là công cụ quan trọng của nhà nước góp phần thực hiện quản lý đất đai, quản lý thị trường bất động sản. Thông qua thu các loại thuế liên quan đến đất đã giúp Nhà nước nắm được hoạt động mua bán chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có biện pháp quản lý thị trường bất động sản để từ đó thực hiện điều tiết công bằng và quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Nguồn thu từ đất có tác động tích cực hai mặt, đối với cả người sở hữu và người sử dụng. Thông qua quan hệ tài chính đất đai trở nên có chủ.
Khi đã có chủ, đất đai sẽ được sử dụng hiệu quả hơn vì chủ sở hữu hay chủ sử dụng đều cần phải quan tâm đến lợi ích của mình. Ba là, nguồn thu từ đất góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai: Việc phát huy vai trò này của nguồn thu từ đất thể hiện ở khía cạnh khi các chủ thể 10 sử dụng đất phải có trách nhiệm thực thi nghĩa vụ tài chính đối với chủ sở hữu. Khi đó, việc thực hiện nguồn thu từ đất của chủ sở hữu sẽ có tác dụng đòn bẩy lợi ích kinh tế thúc đẩy kích thích các chủ thể sử dụng đất hiệu quả hơn. Việc thực hiện nguồn lực tài chính từ đất đai không những có ý nghĩa rất quan trọng đối với chủ thể sở hữu đất mà ngay cả đối với các chủ thể sử dụng đất.
Các chủ thể phải không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất để một mặt thực hiện được lợi ích của mình từ việc sử dụng đó, mặt khác phải có một nguồn lực đủ để thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với chủ thể sở hữu là Nhà nước. Bốn là, nguồn thu từ đất phản ánh kết quả của việc thực hiện lợi ích kinh tế của Nhà nước: Lợi ích kinh tế của Nhà nước có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau, mặc dù vậy, đối với một nước có trình độ phát triển thấp như nước ta thì nguồn thu từ đất là một bộ phận rất đáng kể. Quyền sở hữu về đất đai chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyền đó đem lại lợi ích kinh tế thực cho chủ sở hữu. Lợi ích kinh tế thực được biểu hiện thành những nguồn tiền mà Nhà nước huy động được trên đất thông qua việc giao cho các chủ thể trong nền kinh tế sử dụng đất.
Chế độ sở hữu đất đai của nước ta là không thừa nhận đất đai thuộc sở hữu tư nhân cho nên lợi ích từ nguồn thu từ đất mà chủ thể sở hữu khai thác được phải được phục vụ cho lợi ích của nhân dân. Quản lý các nguồn thu từ đất 1. Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc quản lý các nguồn thu từ đất a) Khái niệm Đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu thực hiện các quyền năng chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Các nguồn thu từ đất là hệ thống các mối quan hệ tài chính giữa Nhà nước với đối tượng sử dụng đất, được pháp luật quy định.
Quản lý các nguồn thu từ đất là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai vì nó là quản lý các nguồn tài chính trực tiếp liên quan đến đất đai. Quản lý các nguồn thu từ đất là sự tác động có ý thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đến các khoản tài chính liên quan đến đất đai dựa trên những quy định của pháp luật và thực hiện bằng các công cụ chính sách, bộ máy quản lý nhằm thực 11 hiện thu các nguồn thu từ đất đảm bảo thu đúng, thu đủ, tránh thất thoát tạo sự công bằng giữa các đối tượng sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Quản lý các nguồn thu từ đất bao gồm quản lý giá đất và quản lý các nguồn thu ngân sách từ đất đai dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật. Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng tài chính từ đất đai và tổ chức thực hiện những văn bản đó.
Theo nghĩa rộng, quản lý các ngu ồn thu từ đất gồm các ho ạt động về: hoạt động xây dựng chính sách, ban hành pháp luật, hoạt động tổ chức hành thu, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Trên quan điểm cơ quan thuế, quản lý các ngu ồn thu từ đất là việc tổ chức thực thi pháp lu ật về đất đai của nhà nước, là hoạt động tổ chức điều hành và giám sát c ủa cơ quan thuế nhằm đảm bảo ngư ời sử dụng đất chấp hành nộp các khoản nghĩa vụ tài chính về đất đai vào ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. b) Mục tiêu Đảm bảo thu đúng theo luật định, tránh thất thoát: Trên mỗi lĩnh vực Nhà nước ban hành những quy tắc, luật định dựa trên những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Việc quản lý các nguồn thu từ đất nhằm thực hiện thu các khoản thu từ đất theo đúng luật, đúng chế độ, chính sách mà nhà nước quy định đảm bảo khai thác triệt để các nguồn thu từ đất, tránh thất thoát.
Đảm bảo thu đúng và đủ theo kế hoạch thu ngân sách từ đất đề ra: Đối với nguồn thu từ đất, phòng Tài chính kế hoạch phối hợp với các phòng Quản lý đô thị, phòng tài nguyên và môi trường xây dựng kế hoạch thu các nguồn thu từ đất theo từng năm, từng thời kỳ căn cứ vào mục tiêu, chiến lược phát triển của mỗi địa phương. Việc quản lý thực hiện thu các nguồn thu từ đất nhằm đảm bảo thực hiện việc thu đúng các khoản theo kế hoạch đã đề ra và thu đủ chỉ tiêu kế hoạch để đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đảm bảo khai thác hiệu quả nguồn lực thu từ đất: Căn cứ vào hiện trạng quy hoạch sử dụng đất, giá đất và chính sách thu từ đất đai để khai thác triệt để các nguồn thu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu cho ngân sách nhà nước. c) Nguyên tắc 12 Nguyên tắc tập trung thống nhất: Sự thống nhất thể hiện ở việc thực hiện quản lý bằng pháp luật, bằng chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra, thống nhất ở chế độ và kế hoạch thực hiện.