CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT 1. Định nghĩa hoạt động quản lý trang thiết bị (Facilities management) Có nhiều định nghĩa về quản lý cơ sở vật chất (Facilities Management) được các tác giả đưa ra và phát triển qua thời gian. Becker (1999) định nghĩa quản lý cơ sở vật chất như là “các trách nhiệm điều phối tất cả những nỗ lực có liên quan đến công tác lập kế hoạch, thiết kế và quản lý các tòa nhà và hệ thống thiết bị, đồ đạc để tăng cường khả năng của tổ chức giúp cạnh tranh và đáp ứng tốt hơn trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng”. Định nghĩa về QLCSVC được Hamer (1988) đưa ra cho rằng “QLCSVC là các quy định về kế hoạch, thiết kế, xây dựng và quản lý không gian trong tất cả các loại cấu trúc từ các tòa nhà văn phòng đến các nhà máy, khu vực hoạt động công cộng”.
QLCSVC có liên quan đến các kế hoạch phát triển tổ chức thông qua các chính sách về cơ sở vật chất, dự báo, đất đai, không gian, các dự án thiết kế, xây dựng và đổi mới, hoạt động xây dựng và kế hoạch bảo trì đồ đạc thiết bị. Định nghĩa này nhấn mạnh đến việc quản lý không gian trong tổ chức. Tương tự Jim Steinmann (1988) cũng xác định hoạt động quản lý cơ sở vật chất "là phương pháp có hệ thống kiểm kê, lập kế hoạch, thiết kế và duy trì không gian, thiết bị và đồ nội thất cho các cơ sở trong mục đích chung hoặc mục đích đặc biệt có thể cần phải được linh hoạt để thích nghi với sự thay đổi. Định nghĩa này bổ sung thêm vấn đề không gian dự trữ và công nhận QLCSVC như một công cụ để duy trì "sự thay đổi" các chương trình kế hoạch của một tổ chức.
Alexander (1996) định nghĩa quản lý cơ sở vật chất như “quá trình mà một tổ chức đảm bảo rằng tòa nhà của mình, hệ thống và dịch vụ hỗ trợ các hoạt động cốt lõi và quy trình cũng như góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức trong điều kiện thay đổi”. Nó tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của người sử dụng để hỗ trợ các vai trò quan trọng của các thành viên trong tổ chức và phấn đấu để không ngừng nâng cao chất lượng, giảm thiểu rủi ro và -1- đảm bảo giá trị. Đây rõ ràng là một chức năng quản lý quan trọng trong mọi tổ chức. Các tổ chức lớn trên toàn thế giới sử dụng QLCSVC như một phần của chiến lược để tái cơ cấu và tạo dựng lợi thế cạnh tranh.
Nó cũng có thể đảm bảo rằng các tòa nhà và các dịch vụ hỗ trợ được cải thiện nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đóng góp vào các mục tiêu kinh doanh của tổ chức. Alexander cũng nhấn mạnh thực tế là quản lý cơ sở vật chất hoàn toàn là một công cụ cốt lõi giúp hỗ trợ việc kinh doanh của một tổ chức với mục đích làm cho nó hiệu quả hơn. Regterschot (1988) mô tả thiết bị cơ sở vật chất như là “một hoạt động quản lý tích hợp (lập kế hoạch và giám sát), thực hiện linh hoạt và sáng tạo có hiệu quả các mục tiêu của một tổ chức trong một môi trường luôn thay đổi”. Regterschot cũng cho thấy QLCSVC như là một công cụ để sử dụng không gian và dịch vụ với mục đích giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho tổ chức.
Hamer (1988) mô tả QLCSVC như quá trình lập kế hoạch, thực hiện, duy trì và sử dụng không gian vật lý thích hợp và các dịch vụ cho một tổ chức, đồng thời tìm cách giảm tổng chi phí liên quan. Định nghĩa này giới thiệu nơi làm việc như một công cụ quản lý chiến lược. Ông cho thấy QLCSVC như một công cụ để chiếm không gian và dịch vụ với mục đích giảm chi phí và nâng cao lợi nhuận có sẵn. Trung tâm quản lý thết bị của Đại học Strathclyde định nghĩa QLCSVC là “quá trình mà tổ chức phân phối và duy trì các dịch vụ hỗ trợ trong một môi trường có chất lượng để đáp ứng nhu cầu chiến lược”.
Định nghĩa này là song song với định nghĩa quản lý chất lượng của dịch vụ cho khách hàng vì nhu cầu chiến lược có thể là nhu cầu của khách hàng, nhân viên, nhà cung cấp, các nhà đầu tư hoặc thậm chí là nhu cầu của cộng đồng. Một nghiên cứu gần đây của West và Ooi (2001), chỉ ra tám định nghĩa hiện tại và ảnh hưởng của QLCSVC dẫn đến việc xác định các thiết bị quản lý như quản lý tổng hợp của nơi làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức. -2- Theo Brochner (2003) thì hoạt động quản lý cơ sở vật chất là việc chịu trách nhiệm đảm bảo các chi phí quản lý hiệu quả của việc xây dựng và quản lý các thiết bị liên quan, tạo ra một môi trường hỗ trợ các hoạt động của người sử dụng và kinh nghiệm và kiến thức của họ sẽ cung cấp nền tảng quan trọng để xây dựng các quyết định liên quan. Maas và Pleunis (2001) cũng cho thấy FM như “trách nhiệm điều phối các nỗ lực để đảm bảo rằng các xu hướng công trình, công nghệ, đồ nội thất và tổ chức được đáp ứng phù hợp theo thời gian”.
Tuy nhiên, những định nghĩa này không nhấn mạnh đến sự đóng góp, trong đó các cơ sở vật chất được quản lý tốt có thể làm cho một tổ chức hoạt động hiệu quả hơn. Viện quản lý cơ sở vật chất Anh (2000) định nghĩa QLCSVC là tích hợp các hoạt động đa ngành trong môi trường xây dựng và quản lý các tác động của chúng đối với con người và nơi làm việc. Định nghĩa này thừa nhận sự đóng góp của các quy trình, nguyên tắc, pháp luật, lý thuyết và thực tiễn từ các ngành nghề khác nhau và lại lặp đi lặp lại sự cần thiết phải quản lý những tác động to lớn mà cơ sở vật chất thiết bị có thể tác động lên con người và nơi làm việc của các tổ chức. Then (2000) nhận định có sáu lĩnh vực quản lý mà QLCSVC cần phải bao gồm là quản trị chiến lược, quản lý tài sản, quản lý dịch vụ, quản lý sự thay đổi, quản lý con người và quản lý thông tin.
FEFC và NAO (1997) cũng đưa ra danh sách những gì được cho là năng lực cốt lõi của quản lý cơ sở vật chất bao gồm quản lý tài sản, quản lý tài chính, quản lý tổ chức, đổi mới và quản lý thay đổi và quản lý nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, Nordic (2003) định nghĩa QLCSVC bao gồm các hoạt động chính như hoạt động quản lý tài sản, quản lý hoạt động, quản lý không gian và quản lý dịch vụ.1 thể hiện các hoạt động chính của quản lý cơ sở vật chất.1: Các thành phần của quản lý cơ sở vật chất (Nordic 2003) Trong khi các định nghĩa còn xuất hiện đa dạng và khác nhau xoay quanh trọng tâm của mình, thì một kiểm nghiệm gần đây cho thấy rằng có một số chủ đề phổ biến của QLCSVC được thể hiện gồm 4 vấn đề. Đầu tiên, trọng tâm của QLCSVC là nơi làm việc hay không gian làm việc, nơi làm việc trong trường hợp này đề cập đến một nơi mà công việc được thực hiện. Do đó, nó không chỉ hạn chế là các tòa nhà văn phòng thương mại mà nó cũng bao gồm các loại nơi làm việc khác nữa.
Thứ hai, QLCSVC áp dụng đối với mọi tổ chức, bởi vì tất cả đều chiếm không gian cho công việc của họ. Thứ ba, QLCSVC đóng vai trò hỗ trợ trong việc tăng cường hiệu quả hoạt động của tổ chức. Cuối cùng, một cách tiếp cận tích hợp là cần thiết trong thực hành QLCSVC. Nói cách khác, quản lý cơ sở vật chất có thể được định nghĩa một cách ngắn gọn là “Các hoạt động quản lý tổng hợp nơi làm việc để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức”(Tai & Ooi, 2001).
IFMA (2003) cũng mô tả công việc của một người quản lý cơ sở vật chất bao gồm các nhiệm vụ và chức năng sau: - Hoạch định chiến lược và chiến thuật cơ sở vật chất. - Dự báo tài chính và ngân sách. - Mua sắm bất động sản, cho thuê. - Mua sắm đồ nội thất, trang thiết bị và các dịch vụ cơ sở bên ngoài.
- Xây dựng công trình, cải tạo và tái sử dụng. -4- - Vấn đề môi trường. - Phát triển các chính sách và thủ tục cơ sở công ty. - Quản lý chất lượng cơ sở vật chất.
- Kiến trúc, kỹ thuật lập kế hoạch và thiết kế. - Quy hoạch và quản lý không gian. - Hoạt động xây dựng, bảo trì và kỹ thuật. - Giám sát các dịch vụ kinh doanh, vận chuyển, phục vụ.
Trong luận án này định nghĩa của QLCSVC (Hình 1.2) sẽ được sử dụng trong đó bao hàm một số phần của tất cả định nghĩa giới thiệu phía trên và tổng quát nhất. Theo Levainen (2001) và Nordic (2003) thì QLCSVC bao gồm quản lý hoạt động, quản lý không gian và quản lý dịch vụ. Quản lý tài sản không được xem xét trong khuôn khổ này vì đây được coi là hoạt động rộng và bậc cao hơn trong phạm vi nghiên cứu này.2: Định nghĩa về QLCSVC (Levainen 2001, RAKLI 2001, Nordic 2003) Các định nghĩa khác nhau của QLCSVC vẫn còn tiếp tục phát triển và đổi mới, tuy nhiên nhìn chung QLCSVC mô tả công tác quản lý của tất cả các hoạt động có liên quan đến cơ sở hạ tầng của một tổ chức bao gồm từ quản lý không gian các tòa nhà, quản lý các hoạt động tác nghiệp, và quản lý dịch vụ phục vụ cho -5- người sử dụng. QLCSVC là một công cụ quản lý chiến lược nhằm khai thác tối đa khả năng đáp ứng giữa khu vực làm việc với con người trong tổ chức và các công việc.
Quá trình phát triển của khái niệm quản lý CSVC Owen (1995) đã chỉ ra thuật ngữ “quản lý cơ sở vật chất” đầu tiên và bản thân có nguồn gốc trong thế giới máy tính công nghệ cao và đẫ được dần dần đưa vào khu vực môi trường xây dựng thông qua quy hoạch không gian và các nhà sản xuất nội thất văn phòng. Ở đó, nó đã được sử dụng như một phương tiện giao tiếp giữa các chuyên gia không gian nội thất và một loạt các khách hàng hoặc “người sử dụng”. Quản lý cơ sở vật chất đã được công nhận là khái niệm mang tính chất quản lý tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1980 và đã được thực hành ở Anh kể từ khoảng năm 1983.