CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH TẾ THỂ THAO 1. Cơ sở lý luận về kinh tế thể thao 1. Khái niệm về thể thao Theo Luật số 26/2018/ QH14 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục Thể thao ngày 14/06/2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019 quy định cụ thể: Thể thao là tất cả các loại hình hoạt động thể chất và trò chơi có tính chất cạnh tranh, từ đó có việc trao giải thưởng thông qua thành tích. Thể thao hiện đại mang mục đích là duy trì, cải thiện các kĩ năng và năng lực thể chất, trau dồi các kỹ năng xã hội, rèn luyện sức khỏe, đem lại niềm vui, hứng khởi cho những người tham gia (thường gọi là các vận động viên, bất kể ở lứa tuổi nào, giới tính, trình độ, đẳng cấp nào) và mang đến sự giải trí cho người xem.
Mai Xuân Vinh (2020) cho rằng: Thể thao có những đặc thù cụ thể, thông thường cuộc thi đấu hay trò chơi diễn ra giữa hai bên, mỗi bên cố gắng để vượt qua đối phương. Một số môn thể thao cho phép có tỉ số hòa; một số môn khác áp dụng các phương thức phá vỡ thế cân bằng, để đảm bảo có một bên thắng và một bên thua. Nhiều trận thi đấu đối kháng như vậy có thể được sắp xếp thành một giải đấu để chọn ra nhà vô địch. Nhiều giải thể thao tổ chức các mùa giải thể thao định kỳ để chọn nhà vô địch, đôi khi phải phân định bằng một hay nhiều trận play-off.
Ngày nay có hàng trăm môn thể thao được tổ chức, từ những môn được tranh tài giữa các cá nhân, cho tới những môn có nhiều người tham gia cùng một lúc. Trong thể thao, huấn luyện viên là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các hoạt động của một đội thể thao hoặc của một cá nhân vận động viên. Một huấn luyện viên, đặc biệt trong một trận đấu lớn, thường được hỗ trợ bởi một hoặc nhiều trợ lý huấn luyện viên. Họ có thể là điều phối viên hoặc chuyên gia thể lực.
Khái niệm về kinh tế thể thao Kinh tế thể thao là một thuật ngữ mô tả việc nhìn nhận và đánh giá lĩnh vực thể thao dưới góc độ kinh tế, dựa trên các kết quả kinh tế mà ngành này mang lại cho các thành phần tham gia. Có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về kinh tế TDTT. Theo Swask (2016), Kinh tế học TDTT có thể được hiểu là môn học nghiên cứu và giải thích quan hệ kinh tế trong quá trình tiến hành các hoạt động TDTT cũng như dịch vụ TDTT, là môn học nghiên cứu giải thích ba vấn đề cơ bản của kinh tế trong lĩnh vực TDTT là TDTT tiến hành hoạt động gì, như thế nào và thỏa mãn cho ai. KTTT là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, là một lĩnh vực kinh doanh giống như mọi ngành kinh doanh trên thị trường; cung cấp hàng hóa, dịch vụ TDTT cho nhu cầu xã hội để thu hoặc không thu lợi nhuận.
Kinh doanh các hoạt động TDTT là cơ sở của KTTT và trong nền kinh tế thị trường hiện hữu với tư cách là một ngành công nghiệp được gọi là công nghiệp thể thao (Sport Industry). Bùi Xuân Mẫn (2018) cho rằng: KTTT theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến hoạt động TDTT (tập luyện, thi đấu,.) cũng như gián tiếp phục vụ cho các hoạt động TDTT như: Sản xuất, cung cấp các dịch vụ hàng hóa, dịch vụ liên quan đến TDTT (trang thiết bị, truyền thông, marketing, cá cược, chứng khoán. Theo nghĩa hẹp, KTTT chỉ bao gồm các hoạt động kinh tế liên quan trực tiếp đến hoạt động TDTT. Nền tảng cơ bản của thể thao chuyên nghiệp là môi trường hoạt động, được hình thành và phát triển dưới ảnh hưởng của môi trường chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa và sự cổ vũ nhiệt tình của các cổ động viên, người hâm mộ.
Các loại hình kinh tế thể thao Kinh tế thể thao là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, cung cấp hàng hóa, dịch vụ thể thao cho nhu cầu xã hội. Đây cũng là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ, mang lại giá trị kinh tế ở nhiều quốc gia lớn trên thế giới như Mỹ, Anh, Đức… Các loại hình kinh doanh, dịch vụ rất phát triển, như: Du lịch thể thao; hàng hóa thể thao; trang thiết bị, dụng cụ thể thao; hoạt động thể thao nghiệp dư; hoạt động thể thao nhà 11 nghề; thể thao giải trí; thể thao trong trường học; thể thao ngoài trời; quảng cáo thể thao; tài trợ thể thao… Các quốc gia tận dụng các cơ hội đăng cai các giải thi đấu quốc tế lớn để tạo dựng hình ảnh đất nước, phát triển các dịch vụ, hàng hóa thể thao, quản lý thể thao chuyên ngành, củng cố, cải thiện kết cấu hạ tầng cho thể thao, bản quyền truyền thông, du lịch cho nên các lọai hình dịch vụ thể thao và kinh tế thể thao cũng khá đa dạng (xem Bảng 1.) STT Thị trường TDTT Loại hình KTTT Thị trường tiêu thụ sản phẩm Trang phục, dụng cụ, cơ sở luyện tập 1 vật chất thể thao thể thao Thể dục nhịp điệu, vũ đạo, thể thao giải Thị trường sức khỏe và giải trí 2 trí, cầu lông, bóng bàn, golf, tennis, thể thể thao thao trên biển,… Thị trường xem thi đấu và thể thao nhà nghề, các loại hình thi đấu 3 biểu diễn thể thao biểu diễn thu hút người đến xem 4 Thị trường tập huấn thể thao huấn luyện, giảng dạy, bồi dưỡng,… tư vấn phát triển thể lực, tầm vóc, tư 5 Thị trường tư vấn thể thao vấn phương pháp tập luyện,… Thị trường y học hồi phục và 6 Y học trị liệu, y học hồi phục y học trị liệu thể thao đua xe, dù bay, kết hợp du lịch và các 7 Thị trường du lịch thể thao hoạt động thể thao giải trí Thị trường xổ số cá cược thể tổ chức các hình thức cá cược có sự cho 8 thao phép của nhà nước 9 Thị trường môi giới thể thao chuyển nhượng cầu thủ Thị trường truyền thông thể quảng cáo và tuyên truyền các hoạt 10 thao động về TDTT, bản quyền truyền hình Bảng 1. Tương ứng giữa thị trường TDTT và các loại hình KTTT trên thế giới Nguồn: Swask (2006) Ở Việt Nam, các dịch vụ thể thao nói chung và kinh tế thể thao nói riêng là một lĩnh vực khá mới, chưa có sự định hình rõ nét và phân loại cụ thể trong nội dung của các luật định. Trên cơ sở nghiên cứu của Bùi Xuân Mẫn (2018), kinh tế thể thao ở Việt Nam hiện nay được chia ra làm 3 loại hình cơ bản: 12 Thứ nhất, Các cơ sở kinh doanh hoạt động thể dục thể thao Tại Điều 3 Nghị định 106/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện kinh doanh hoạt động thể thao, có quy định như sau: 1.
Kinh doanh hoạt động thể thao là việc sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị thể thao để cung cấp một, một số hoặc tất cả dịch vụ hướng dẫn tập luyện, tập luyện, biểu diễn, thi đấu thể thao nhằm mục đích sinh lợi. Cơ sở kinh doanh hoạt động thể thao là doanh nghiệp, hộ kinh doanh hoặc các cơ sở khác có chức năng kinh doanh hoạt động thể thao. Như vậy, các cơ sở kinh doanh hoạt động TDTT chủ yếu là doanh nghiệp, hộ kinh doanh và được chia thành 02 đối tượng cơ bản: (1) Đối với các cơ sở công lập chủ yếu có nhà thi đấu thể thao thuộc Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT. Tuy nhiên, công năng của Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu TDTT chưa được phát huy tối đa, chưa đem lại nguồn thu cho ngân sách nhà nước.
(2) Đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh hoạt động TDTT chủ yếu kinh doanh dịch vụ ở các môn thể thao: Yoga, Bơi lặn, Bóng đá, Thể hình, Billards, Cầu lông, Quần vợt. Thứ hai, Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp Luật Thể dục, Thể thao số 77/2006/QH11 ngày 29/11/2006 có quy định: “Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân thành lập để thực hiện đào tạo, huấn luyện vận động viên và tổ chức thi đấu thể thao chuyên nghiệp; kinh doanh, dịch vụ trong lĩnh vực thể thao và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật”. Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp là thành viên của liên đoàn thể thao quốc gia. Có đội ngũ cán bộ, nhân viên thể thao đáp ứng yêu cầu của hoạt động thể thao chuyên nghiệp.
Có vận động viên chuyên nghiệp, huấn luyện viên chuyên nghiệp. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp với hoạt động thể thao chuyên nghiệp. Có nguồn tài chính bảo đảm cho hoạt động của câu lạc bộ. Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp bên cạnh những trách nhiệm thì quyền lợi cũng thể hiện rõ: (1).
Tham gia thi đấu giải thể thao chuyên nghiệp do liên đoàn thể thao quốc gia, liên đoàn thể thao quốc tế tổ chức. Phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng năng khiếu thể thao. Đào tạo, huấn luyện vận động viên chuyên nghiệp. Ký hợp đồng lao động với vận động viên chuyên nghiệp, huấn luyện viên chuyên nghiệp.
(3) Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện và thi đấu thể thao. Bảo đảm nguồn tài chính hoạt động của câu lạc bộ. Được sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật. Được hưởng chính sách ưu đãi trong sử dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị do Nhà nước quản lý.
Được Nhà nước tạo điều kiện để tăng nguồn thu hợp pháp. Được tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ, ủng hộ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Từ những quy định trên, có thể thấy rằng, Câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp thực chất là một doanh nghiệp kinh doanh hoạt động TDTT, trong đó Câu lạc bộ chuyên nghiệp có thể thực hiện các hoạt động về mua bán chuyển nhượng vận động viên, kinh doanh các hoạt động quảng cáo và các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật. Thứ ba, Cơ sở sản xuất, buôn bán hàng hóa, dụng cụ thể thao.
Việc sản xuất, buôn bán, hàng hóa dụng cụ thể thao là một ngành công nghiệp phụ trợ cho lĩnh vực thể dục thể thao. Và khi các hoạt động thể dục thể thao ngày càng phát triển thì nhu cầu mua sắm các dụng cụ hỗ trợ ngày càng nhiều hơn, đa dạng hơn. Tùy vào thị hiếu của người chơi thể thao mà lĩnh vực này khá đa dạng sản phẩm và đa dạng các nhà cung ứng.