Chương 1. Tổng quan về công tác quản lý các dự án hạ tầng xã hội tại quận Hà Đông, thành phố Hà Nội Chương 2. Cơ sở pháp lý và khoa học để nâng cao hiệu quả quản lý các dự án hạ tầng xã hội tại quận Hà Đông, thành phó Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự án hạ tầng xã hội tại quận Hà Đông, thành phó Hà Nội.
PHAN NOI DUNG Chuong 1: TONG QUAN VE CONG TAC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN HA TANG XA HOI TAI QUAN HA DONG, THANH PHO HA NOI 1. Những vấn đề chung về dự án và quản lý dự án đầu tư xây dựng 1. Dự án đầu tư xây dựng [14] Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định. Dự án đầu tư xây dựng công, trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở.
Dự án đầu tư xây dựng là một loại công việc mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình tự. Dự án đầu tư xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau : - Được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có múi liên hệ nội tại chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tư xây dựng. ~ Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, về nguồn lực, về chất lượng, về chỉ phí đầu tư và về hiệu quả đầu tư. - Phải tuân theo trình tự đầu tư xây dựng cần thiết từ lúc đưa ra ý tưởng.
đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng. - Mọi công việc chỉ thực hiện một lần : đầu tư một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất. Các yêu cầu chủ yếu của Dự án đầu tư xây dựng công trình: a) Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng; b) Bảo đảm an ninh, an toàn xã hội và an toàn môi trường, ©) Bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án đ) Phù hợp với các quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật khác có liên quan. Phân loại dự án đầu tư xây dựng công trình - Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại Phụ lục 1 của Nghị định này; - Theo nguồn vốn đầu tư: a) Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; b) Dự án sử dụng vốn ngoài ngan sách Nhà nước; c) Dự án sử dụng vốn khác (vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn).
Quản lý Dự án đầu tư xây dựng công trình [14] a. Quản lý dự án và đặc trưng của công tác QLDA Sự xuất hiện của hàng loạt công trình kém chất lượng, công trình dở dang, chúng ta cảm thấy đau lòng. Nếu các nhà quản lý hiểu rõ được kiến thức quản lý dự án. nắm vững được quy luật vận động của dự án thi sẽ tránh được rất nhiều các hiện tượng.
Từ những năm 50 trở lại đây, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, các nước đều cố gắng nâng cao sức mạnh tông, hợp của bản thân nhằm theo kịp cuộc cạnh tranh toàn cầu hóa. Chính trong tiền trình này, các tập đoàn doanh nghiệp lớn hiện đại hóa không ngừng xây dựng những dự án công trình có quy mô lớn. kỹ thuật cao, chất lượng tốt. Dự án đã trở thành phần cơ bản trong cuộc sống xã hội.
Cùng với xu thế mở rộng quy mô dự án và sự không ngừng nâng cao vẻ trình độ khoa học công nghệ, các nhà đầu tư dự án cũng yêu cầu ngày càng cao đối với chất lượng dự án. Vì thế, quản lý dự án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án. Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tô chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống, chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.
Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau: - Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án - Khách thê của quản lý dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án). Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tổn tại của dự án. ~ Mục đích của quản lý dự án là để thực hiện mục tiêu của dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng.
Bản thân việc quản lý không phải là mục đích mà là cách thực hiện mục đích. - Chức năng của quản lý dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức. chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả mục tiêu quản lý cũng không được thực hiện.
Quá trình thực hiện mỗi dự án đều cần có tính sang tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo. Nội dung quản lý dự án Quản lý dự án là việc giám sát, chỉ đạo, điều phói, tổ chức, lên kế hoạch đối với 4 giai đoạn của vòng đời dự án trong khi thực hiện dự án (giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển, giai đoạn trưởng thành và giai đoạn kết thúc). Mục đích của nó là từ góc độ quản lý và tổ chức, áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu dự án như mục tiêu về giá thành,. mục tiêu thời gian, mục tiêu chất lượng.
'Vì thế, làm tốt công tác quản lý là một việc có ý nghĩa vô cùng quan trọng. * Quản lý phạm vi dự án “Tiến hành khống chế quá trình quản lý đối với nội dung công việc của dự án nhằm thực hiện mục tiêu dự án. Nó bao gồm việc phân chia phạm vi, quy hoạch phạm vi, điều chỉnh phạm vi dự án * Quản lý thời gian dự án Quan lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra. Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thê, sắp xếp trình tự hoạt động, bồ trí thời gian.
khống chế thời gian và tiến độ dự án. * Quản lý chỉ phí dự án Quản lý chỉ phí dự án là quá trình quản lý chỉ phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà chỉ phí không vượt quá mức trù bị ban đầu. Nó bao gồm việc bó trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chỉ phí. * Quản lý chất lượng dự án Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra.
gồm việc quy hoạch chất lượng. khống chế chất lượng và đảm bảo chát lượng, * Quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi nguời trong dự án và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất. Nó bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban quản lý dự án. * Quản lý việc trao đổi thông tin dự án Quản lý việc trao đổi thông tin dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đôi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án * Quản lý rủi ro trong dự án Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng ta không lường trước được.
Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những, nhân tố bất lợi không xác định cho dự án. Nó bao gồm việc nhận biết. phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro. * Quản lý việc thu mua của dự án Quản lý việc thu mua của dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án.
Nó bao gồm việc lên kế hoạch thu mua. lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu * Quản lý việc giao nhận dự án Đây là một nội dung quản lý dự án mới mà Hiệp hội các nhà quản lý dự án trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển của quản lý dự án. Một dự án tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả. Nhưng một số dự án lại khác, san khi dự án hoàn thành thì khách hàng lập tức sử dụng kết quả dự án này vào việc vận hành sản xuất.
Dự án vừa bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên khách hàng (người tiếp nhận dự án) có thể thiếu nhân tài quản lý kinh doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án. Vì thế cần có sự giúp đỡ của đơn vị thi công dự án giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này, từ đó mà xuất hiện khâu quản lý việc giao - nhận dự án.