mở đầu cho sự hiểu biết sâu sắc công việc, để từ đó nắm bắt được các thông tin cần thiết của nó, phục vụ cho việc tổ chức và phân công lao động, để lập kế hoạch nguồn nhân lực, để tuyển dụng và đào tạo nhân viên, cũng như để làm căn cứ xây dựng cách thức trả công lao động… Phân tích công việc là một trong các công cụ rất quan trọng của quản lý nhân lực. Nhờ phân tích công việc chúng ta có thể hiểu rõ bản chất của công việc cũng như xác định được các kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất cần thiết của người lao động để hoàn thành công việc. Kết quả phân tích có thể giúp chúng ta xây dựng được phiếu mô tả công việc, phiếu tiêu chuẩn thực hiện công việc, phiếu yêu cầu kỹ thuật chuyên môn của công việc. Các phiếu này phục vụ rất đắc lực vào hiệu quả của công tác quản lý nhân lực.
Việc thu thập đầy đủ các thông tin về công việc và thông tin về người đảm nhận nó cần sử dụng kết hợp các phương pháp như: quan sát, phỏng vấn, phiếu câu hỏi điều tra và tự ghi chép mô tả. Trên cơ sở hiểu sâu sắc công việc thì người cán bộ quản lý nhân lực có thể thiết kế công việc hoặc thiết kế lại công việc để, một mặt không ngừng nâng cao năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế và mặt kia góp phần khắc phục những tồn tại, lạc hậu, những độc hại nguy hiểm cũng như sự đơn điệu nhàm chán đối với người lao động… qua đó góp phần nâng cao động cơ làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. Nếu như, khi thiết kế công việc người ta thường theo hai xu hướng như: không chuyên môn hoá 8 sản xuất (sản xuất có tính chất vạn năng) và chuyên môn hoá sản xuất, thì thiết kế lại công việc lại có hướng nhằm nâng cao sự thoả mãn của người lao động cả về kinh tế lẫn tinh thần (công việc hấp dẫn hơn, trách nhiệm và tính tự chủ cao hơn). Có các hình thức thiết kế lại cần nghiên cứu và áp dụng như: quay vòng hay luân phiên công việc, mở rộng công việc, làm giàu công việc và nhóm làm việc tự chủ.
Trong quá trình thực hiện phân tích công việc, thiết kế và thiết lại công việc, phòng quản lý nhân lực có vai trò quan trọng và trực tiếp… 1. Kế hoạch nguồn nhân lực [23]: Lập kế hoạch nguồn nhân lực là một quá trình dự báo có tính chất hệ thống về nhu cầu nhân lực, về khả năng sẵn sàng cung cấp nhân lực của tổ chức trong tương lai, để đảm bảo rằng tổ chức có đúng nhân viên cần thiết, vào đúng thời điểm cần thiết, đảm bảo hoàn các mục tiêu đã đề ra. Việc lập kế hoạch nguồn nhân lực bao gồm bốn bước sau: Bước thứ nhất, là xác định phương án cầu về nhân lực của tổ chức tại thời kỳ T+1. Dựa vào các nhân tố đã được dự báo như sản lượng sản xuất, mức lao động, quỹ thời gian trung bình của người lao động trong tương lai cũng như tác động của thị trường lao động ngành, các nhà quản lý sẽ xác định phương án cầu về nhân lực.
Bước thứ hai, xác định phương án sẵn sàng cung nhân lực của tổ chức tại thời kỳ T+1. Ở bước này cần dự báo sự biến động một cách tự nhiên của nhân lực trong tổ chức như sự nghỉ hưu, sự ra đi, sự thăng tiến và phát triển của cán bộ, nhân viên cũng như những tác động của thị trường lao động. Bước thứ ba, thực hiện cân đối cầu và cung nhân lực, phát hiện ra sự mất cân đối về cơ cấu tổ chức, về cơ cấu lao động, về sự dư thừa và sự thiếu hụt cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức tại thời kỳ T+1. Bước thứ tư, các nhà quản lý sẽ đề ra chính sách, giải pháp cần thiết để điều chỉnh nguồn nhân lực trong các trường hợp cụ thể.
Nếu thiếu nhân lực hoặc thiếu trình độ, tổ chức sẽ tăng giờ làm việc, sẽ tuyển dụng thêm, sẽ đào tạo, sẽ đề bạt thăng tiến… Trường hợp thừa lao động, tổ chức sẽ giảm giờ làm, sẽ giãn thợ, cho nghỉ hưu sớm… 9 1. Tuyển dụng nhân lực [23]: Tuyển dụng là nội dung rất quan trọng của quản trị nguồn nhân lực trong các tổ chức. Nó ảnh hưởng lớn đến chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Chiêu mộ là một quá trình thu hút những người có đủ khả năng đến nộp đơn xin việc vào tổ chức.
Lựa chọn là một quá trình sàng lọc trong số những người tham gia dự tuyển, tìm ra những người phù hợp nhất với vị trí cần tuyển. Tuyển dụng là một quá trình phân tích, thu hút, lựa chọn và quyết định tiếp nhận một cá nhân vào một vị trí của tổ chức. Một tổ chức mà có được quy trình tuyển dụng khoa học thì sẽ có nhiều cơ hội tuyển được những người tài giỏi và chắc chắn họ sẽ góp phần tích cực để đạt được mục tiêu của tổ chức. Quy trình này bao gồm các bước: xác định nhu cầu cần tuyển, phân tích vị trí cần tuyển, xây dựng các tiêu chuẩn và yêu cầu của người cần tuyển, thăm dò nguồn tuyến, thông báo hoặc quảng cáo (chiêu mộ), thu hồ sơ và sơ tuyển, phỏng vấn và trắc nghiệm (lựa chọn), quyết định tuyển dụng, hoà nhập người mới vào vị trí, và tính chi phí cho một cuộc tuyển dụng.
Tạo động lực lao động [23] Động lực lao động là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố tác động đến con người trong lao động. Các học thuyết về động lực lao động cho thấy các cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực. Nhận thức về các học thuyết sẽ giúp cho những nhà quản trị, người quản lý có phương hướng và biện pháp hợp lý để tạo động lực cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi để người lao động hàon thành nhiệm vụ, kích thích lao động và thực hiện chương trình hành động. Tổ chức quá trình lao động [04] Tổ chức quá trình lao động là một hệ thống các biện pháp đảm bảo sự hoạt đọng lao động của con người nhằm mục đích nâng cao năng suất lao động và sử dụng có hiệu quả các tư liệu sản xuất.
Tổ chức lao động khoa học là tổ chức lao động ở trình độ cao, trên cơ sở áp dụng những biện pháp tổng hợp về kỹ thuật, về tổ 10 chức, về kinh tế, có tính đến yếu tố tâm sinh lý của người lao động và yếu tố xã hội vào quá trính ản xuất nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn vật chất và lao động, để tăng năng suất lao động không ngừng, đồng thời bảo vệ sức khoẻ, người lao động và duy trì khả năng làm việc lâu dài. Trong các tổ chức và các doanh nghiệp, sự phân công lao động là tất yếu khách quan. Có ba hình thức phân công lao động lao động chủ yếu: theo chức năng, theo công nghệ và theo trình độ chuyên môn. Phân công lao động dẫn đến sự hiệp tác lao động.
Phân công và hiệp tác lao động là hai mặt của một quá trình sử dụng có hiệu quả các nguồn vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp. Chỗ làm việc là khâu đầu tiên và là tế bào của quá trình sản xuất, mà tại đó máy móc thiết bị, đối tượng lao động và sức lao động của con người được tổ chức và kết hợp để tạo ra các sản phẩm theo các yêu cầu của sản xuất. Muốn nâng cao năng suất lao động và đạt hiệu quả sản xuất cao, nhất thiết phải tổ chức và phục vụ tốt chỗ làm việc. Tổ chức và phục vụ tốt chỗ làm việc vừa bảo đảm sử dụng hợp lý và có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật sản xuất, bảo đảm chất lượng sản phẩm, vừa bảo đảm giảm các chi phí sản xuất, góp phần hạ giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Khi tổ chức chỗ làm việc cần chú ý đến đặc điểm của sản xuất sản phẩm và đặc biệt chú ý tới các cơ sở khoa học về vùng thao tác, vùng quan sát, các trạng thái và tư thế làm việc hợp lý, tối ưu của người lao động. Việc phục vụ đồng bộ và kịp thời các yếu tố vật chất để đảm bảo cho quá trình sản xuất liên tục và đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải biết thiết kế hay lựa chọn các chế độ phục vụ hợp lý. Tổ chức quá trình lao động trong các doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý tới công tác an toàn lao động và vệ sinh lao động. Đó vừa là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của Nhà nước, của các ngành, của tất cả người sử dụng lao động cũng như của mọi người lao động.
Cần phải thi hành nghiêm chỉnh các văn bản pháp luật về ATLĐ & VSLĐ, cần cải thiện không ngừng điều kiện lao động, cần xây dựng chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý một ca công tác, một tuần và một năm làm việc. Hiện nay, tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội - SA 8000 đòi hỏi các doanh nghiệp phải duy trì và áp dụng các chính sách, các thủ tục để quản lý các vấn đề xã hội, đồng 11 thời phải chứng tỏ với các bên rằng: chính sách, thủ tục và các hoạt động thực tiễn là phù hợp về: lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khoẻ và an toàn, tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể, sự phân biệt đối xử, thực hiện kỷ luật, giờ làm việc, thu nhập và hệ thống quản lý. Định mức lao động [04] - Để tăng năng suất lao động cần phải biết số lượng tất yếu phải tiêu hao để hoàn thành một khối lượng công việc, một sản phẩm, một chức năng nào đó… tức là phải đo được số lượng lao động tiêu hao trong quá trình sản xuất - đó là các mức lao động. - Định mức lao động: là cách thức tiến hành để đưa ra được các chỉ tiêu về mức lao động, nói rộng hơn là lĩnh vực hoạt động thực tiễn về xây dựng và thực hiện các mức lao động.
- Có các dạng mức lao động: Mức thời gian (Mtg) mức sản lượng (Msl) mức phục vụ (Mpv) mức thời gian phục vụ (Mtgpv) mức số lượng người phục vụ (Mslnpv) mức quản lý (Mql), mức năng suất máy/ca.