Chương 1: Nguồn nhân lực lái máy bay và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực lái máy bay Chương 2: Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực lái máy bay tại Tổng công ty hàng không Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực người lái máy bay hàng không tại Tổng công ty Hàng không VN Luận văn này đã được chuẩn bị rất kỹ, tuy nhiên do kiến thức bản thân còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được các ý kiến đóng góp, phê bình để luận văn này đạt chất lượng tốt hơn. NGUỒN NHÂN LỰC LÁI MÁY BAY VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỐN NHÂN LỰC LÁI MÁY BAY Trong phần này, nghiên cứu sẽ trình bày và phân tích về nguồn nhân lực lái máy bay và sự cần thiết phải phát triển nguồn nhân lực lái máy bay Những vấn đề này sẽ là cơ sở để xem xét, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực lái máy bay hiện nay tại VNA, đồng thời cung cấp những lý luận cơ bản để đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực lái máy bay tại VNA.1 Tổn quan về n uồn n ân lực lái má ba và p át triển n uồn n ân lực lái má ba 1.Nguồn Nhân lực lái máy bay: 1. Khái quát chung về nguồn nhân lực lái máy bay và phát triển nguồn nhân lực lái máy bay: Con người là chủ thể của quá trình sản xuất kinh doanh.
Với thể lực, trí tuệ và sự sáng tạo vô hạn của mình, con người là nguồn lực quan trọng nhất của quá trình sản xuất, là lợi thế cạnh tranh của các doanh nghiệp nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã nâng quan điểm về con người thành một trong năm quan điểm phát triển của Đảng: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu của sự phát triển” [8, tr 100] Nhân lực có thể được hiểu một cách chung nhất là “nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Xét góc độ từ ngữ thì “Nhân lực, từ loại danh từ, chỉ sức người dùng trong sản xuất“. Xét dưới góc độ tổ chức thì “ Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó” [9, tr 7].
Thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, hiểu biết, kiến thức, tài năng. của từng con người [9, tr 8]. TS Đỗ Văn Phức thì Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt lâu dài của doanh nghiệp [15, tr17] Khái niệm nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận của tổ chức là khái niệm khái toàn diện và là khái niệm được học viên sử dụng trong luận văn này.
Theo từ điển Tiếng Việt thì hai khái niệm phi công và người lái máy bay là 02 danh từ đồng nghĩa. Phi công là danh từ Hán Việt, người lái máy bay là danh từ thuần Việt. Theo định nghĩa của Từ điển thì đó là “người lái, điều khiển máy bay hoặc thiết bị bay bằng lực đẩy động cơ” [25, tr 345]. - Để phân loại người lái người ta có thể dựa vào một số tiêu thức.
Theo tính chất nghề nghiệp có thể chia ra phi công dân sự và phi công quân sự. Phi công dân sự là người lái máy bay để giải trí, làm từ thiện, làm kinh doanh, làm công cho các hãng vận tải và các hãng hàng không. Phi công quân sự là phi công phục vụ trong lực lượng quốc phòng. Theo chu trình phát triển có thể chia ra: Học viên dự khoá, Học viên phi công cơ bản, lái phụ, lái chính.
Trong đó các học viên dự khoá (cadet pilot) là những người được tuyển chọn để đào tạo những kiến thức sơ đẳng về ngành hàng, thường được các trung tâm đào tạo tại các hãng hàng không đào tạo. Học viên phi công cơ bản (abinitio pilot) là những người được đào tạo tại các cơ sở huấn luyện phi công chuyên nghiệp, các cơ sở này phải được ICAO cấp chứng chỉ để huấn luyện phi công. Lái phụ (First officer) là người có bằng lái máy bay với phê chuẩn lái phụ, có nhiệm vụ trợ giúp lái chính và thực hiện những nhiệm vụ lái chính giao. Lái phụ bay bằng (Second- Officer) là người thực hiện chức năng giống như lái phụ nhưng làm việc khi ở độ cao nhất định.
Lái chính (Captain) là người lái được phê chuẩn là lái chính, chịu trách nhiệm chính của chuyến bay. Trong phạm vi luận văn này khái niệm người lái máy bay được tiếp cận là phi công dân sự làm việc cho các vận tải hàng không, bao gồm cả học viên dự khoá, học viên phi công cơ bản, lái chính, lái phụ. Đặc điểm nhân lực lái máy bay Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn và xét theo góc độ ảnh hưởng đến 6 công tác quản lý nguồn nhân lực, nhân lực lái máy bay có những đặc điểm nổi bật sau đây: - Là lực lượng lao động trực tiếp của hãng hàng không, điều khiển và làm chủ cỗ máy khổng lồ hoạt động trên không trung với những công nghệ tiên tiến, chính xác cao nhất của nhân loại như công nghệ vật liệu, cơ khí chính xác, điều khiển tự động, các hệ thống điện, điện tử, định vị,. - Là lao động phức tạp, lao động đòi hỏi cả thể lực và trí lực cao, lòng dũng cảm, tính quyết đoán, nhanh nhẹn trong hành động.
Bên cạnh đố là yêu cầu về tiếng Anh chuyên ngành, kiến thức hàng không, phản xạ, tư duy logic để giải quyết những tình huống khẩn cấp. Người lái phải điều khiển một cỗ máy khổng lồ, hiện đại trên không, bay với vận tốc và động lượng lớn. Do động lượng của máy bay là rất lớn, vật liệu chế tạo chỉ chịu được các va chạm trong phạm vi nhỏ hơn nhiều, nên bất cứ một va chạm, sai sót nào nào cũng trở thành sự cố nguy hiểm dẫn đến phá huỷ máy bay. Điều đó đòi hỏi người lái phải có nhiều tố chất tốt để bình tĩnh trong xử lý tất cả các vấn đề, tình huống khẩn nguy được đặt ra.
Lái máy bay là nghề nghiệp chịu nhiều áp lực, đòi hòi trách nhiệm cao trong công việc. - Điều kiện lao động của đội ngũ người lái là nặng nhọc, nhiều yếu tố độc hại: độ cao, áp suất liên tục thay đổi, thời gian làm việc dài, di chuyển nhiều, qua nhiều múi giờ trên trái đất. - Lao động có trình độ theo chuẩn của quốc tế, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn chung do thế giới đặt ra bao gồm cả thể lực, trí lực và trình độ tiếng Anh. Người lái máy bay khi được cấp bằng có thể làm việc cho một hãng hàng không có thể làm việc cho tất cả các hãng hàng không trên thế giới mà không cần có các ưu tiên nào.
- Phải được huấn luyện, đào tạo, đào tạo lại và kiểm tra sức khỏe, cập nhật kiến thức thường xuyên theo những thời gian định kỳ, chặt chẽ. Lao động đặc thù, chi phí đào tạo lớn. Do chi phí vận hành một chiếc máy bay là lớn và bằng lái yêu cầu phải có số giờ bay quy định cộng với việc phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế của ICAO đưa ra nên việc đào tạo là hết sức tốn kém. Theo tính toán thì để đào tạo 7 một người thành một lái chính, các hãng phải tiêu tốn số tiền bằng số cân vàng bằng cân nặng của anh ta.
- Lao động mà các việc thực hiện nhiệm vụ không chỉ dựa hoàn toàn vào các thông số kỹ thuật do máy móc cung cấp mà còn đòi hỏi kinh nghiệm xử lý, độ nhậy cảm của bản thân người lái với không gian, thời gian, sự bài bản và thành thạo trong các thao tác trong tất cả các tình huống. - Sai sót trong nghề nghiệp gây ra những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng, có sức ảnh hưởng rất lớn đối với không chỉ hành khách, gia đình, doanh nghiệp vận tải mà còn cả nền kinh tế. - Loại lao động này ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp là có sẵn trên thị trường. Đối với hầu hết các nước còn lại đều là lao động không có sẵn trên thị trường, thường chỉ được các hãng tuyển dụng sau đó đào tạo theo nhu cầu của các hãng hàng không.
Hiện tại, trên thế giới đây là nguồn nhân lực khan hiếm, tốc độ phát triển thấp hơn nhu cầu của nền kinh tế. Ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Đoàn trưởng Đoàn bay 919 hiện nay của VNA cho biết ”Phi công là nghề nghiệp vất vả và nhiều rủi ro bậc nhất. Kỹ sư, bác sỹ có mảnh bằng tốt nghiệp là có thể hành nghề kiếm cơm suốt đời nhưng đối với phi công thì không. Kể cả khi có bằng lái tất cả phi công đều phải vượt qua các kỳ kiểm tra kiến thức, sức khỏe tâm lý định kỳ 06 tháng một lần trong suốt cuộc đời bay” [34, tr 1].
Phát triển nguồn nhân lực lái máy bay Theo quan điểm của UNDP “Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của các yếu tố: giáo dục và đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực , những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau; trong đó, giáo dục và đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của tất cả các nhân tố khác. Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực ” [28]. 8 Theo GS – TSKH Nguyễn Minh Đường “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu là sự gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, đạo đức, tâm hồn…để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muồn màu của nhân loại.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả 3 mặt: Phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn lực phát triển” [12].