Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nghề Nghề là một thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội. Karl Mark đã đưa ra một định nghĩa khái quát về nghề như sau: "Nghề là một khâu độc lập của phân công lao động trong xã hội”.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có).
Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. Theo tác giả Nguyễn Hùng thì: “Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau. Chuyên môn là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [32].
Từ điển tiếng Việt đưa ra định nghĩa: “Nghề là công việc chuyên làm, theo sự phân công của xã hội” [46]. Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Ở Việt nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã 4 hội”.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: - Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Là phương tiện để sinh sống. - Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy phạm trù "nghề" biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đào tạo nghề Hiện nay đang tồn tại nhiều định nghĩa về đào tạo, một số nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số khái niệm: - Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xã hội cần thiết. - Đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. - Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là: + Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp.
5 + Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”. Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề [22]. - Đặc điểm về dạy nghề: Dạy nghề là hoạt động đào tạo đặc thù, khác với các loại hình dạy học và đào tạo hàn lâm khác ở những đặc điểm sau: + Dạy nghề là hình thành nhân cách người lao động mới: Khác với đào tạo hàn lâm, dạy nghề là đào tạo cho người học có kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở một trình độ nhất định và có thể làm việc theo nghề sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh phẩm chất nghề nghiệp: Lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp. + Dạy nghề gắn với quá trình sản xuất: Đặc thù cơ bản của dạy nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất.
Vì vậy, người học phải biết được quá trình sản xuất, biết được đối tượng lao động, phương tiện công cụ lao động, quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm. + Dạy nghề là dạy thực hành sản xuất: Hoạt động dạy nghề bao gồm dạy lý thuyết và thực hành, nhưng thực hành chiếm khoảng 70% thời gian nhằm đạt được mục tiêu đào tạo. + Hình thức dạy nghề đa dạng và phong phú, bao gồm: Dạy nghề chính quy, dạy nghề thường xuyên, truyền nghề, dạy nghề kèm cặp, dạy nghề lưu động,. Chất lượng Chất lượng là: “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc.) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (theo Từ điển tiếng Việt 1998).
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính thì: “Chất lượng sản phẩm là cái tạo nên phẩm chất giá trị của một người, một sự vật, một việc làm giúp cho ta có thể phân biệt sự vật này với sự vật khác. 6 Theo định nghĩa của ISO 9000-2000 “chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có”. Trong đó, yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc. Chất lượng là: “Tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thỏa mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn” (TCVN - ISO 8402).
Chất lượng được thể hiện ở các khía cạnh đó là: + Sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú và xuất sắc. + Sự phù hợp, thích hợp. + Sự thể hiện giá trị. + Sự biến đổi về chất.
Hiệu quả: Khái niệm hiệu quả phản ảnh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi phí và lợi ích, giữa đầu tư với kết quả thực tế thu được trong những môi trường và thời gian nhất định, mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm hay một giải pháp nào đó. Cũng như khái niệm chất lượng, khái niệm về hiệu quả cũng được xem xét ở nhiều mức độ và góc độ khác nhau. Chất lượng và hiệu quả có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Theo từ điển Tiếng Việt thuật ngữ hiệu quả được định nghĩa là “Kết quả như yêu cầu mang lại” [46].
Trong lĩnh vực quản lý cơ sở vật chất hiệu quả được xem xét như là kết quả của một quá trình quản lý. Hiệu quả quản lý chính là đáp ứng mục tiêu quản lý, từ đó đáp ứng yêu cầu đào tạo của trường với chất lượng cao và chi phí cho một đơn vị đào tạo thấp nhất. Chất lượng đào tạo nghề Cũng như các nước trên thế giới, chất lượng giáo dục là một trong những mối quan tâm của toàn xã hội và là vấn đề trọng yếu trong chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước. 7 Theo tác giả Lê Đức Ngọc, Lâm Quang Thiệp “Chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo”.
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề đào tạo [20]. Khái niệm “chất lượng” đã trừu tượng và phức tạp thì khái niệm về “chất lượng đào tạo nghề ” càng phức tạp hơn bởi liên quan đến sản phẩm là giá trị của con người, một sự vật, sự việc. Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo đếm được và cảm nhận được. Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó.
Sẽ không thể biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng. Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng các công nhân kỹ thuật được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo mục tiêu và chương trình đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau, biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh kết quả đào tạo của các cơ sở đào tạo nghề, của cả hệ thống đào tạo nghề. Chất lượng đào tạo nghề biến đổi theo thời gian và theo không gian dưới tác động của các yếu tố.
Quản lý Nghiên cứu về quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản lý. Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “quản lý” được định nghĩa như sau: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan" [46]. 8 Theo Karl Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.