Mở đầu: Một số vấn đề chung của luận văn Chƣơng 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thực trạng quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật của trƣờng cao đẳng công nghiệp Việt Đức Chƣơng 3: Biện pháp quản lí cơ sở vật chất - kĩ thuật của trƣờng cao đẳng công nghiệp Việt Đức Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VIỆC QUẢN LÍ CƠ SỞ VẬT CHẤT - KĨ THUẬT CỦA TRƢỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP 1. CÁC KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN 1. Khái niệm Thuật ngữ “quản lí” đã trở nên phổ biến nhƣng chƣa có một định nghĩa thống nhất. Nó đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau.
- Theo Đại bách khoa toàn thƣ Liên Xô: “Quản lí là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kĩ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chƣơng trình, mục đích hoạt động”. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí là những tác động có định hƣớng, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tƣợng bị quản lí trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [25] - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”[34]. - Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con ngƣời để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [22]. Theo Đặng Thành Hƣng (Bài giảng cao học Giáo dục so sánh năm 2008), quản lí là một dạng lao động gây ảnh hƣởng, điều khiển hoặc phối hợp lao động của ngƣời khác hay nhiều ngƣời khác trong cùng tổ chức hoặc cùng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 công việc nhằm đạt mục tiêu nào đó của tổ chức hoặc lợi ích của công việc.
Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Chúng tôi chọn quan điểm trên là quan điểm chỉ đạo nghiên cứu cho luận văn. Các chức năng quản lí Chức năng quản lí là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản lí nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá của hoạt động quản lí. Nó tập hợp các nhiệm vụ mà quản lí phải thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu quản lí đề ra.
Có nhiều cách phân chia chức năng quản lí, song về cơ bản đều thống nhất bốn chức năng: Lập kế hoạch- Tổ chức thực hiện - Chỉ đạo - Kiểm tra, đánh giá. * Chức năng lập kế hoạch Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên và cơ bản nhất giúp cho nhà quản lí tiếp cận mục tiêu một cách hợp lý và khoa học. Trên cơ sở phân tích trạng thái xuất phát, căn cứ vào những tiềm năng đã có, những khả năng sẽ có trong tƣơng lai mà xác định rõ hệ thống các mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của tổ chức. Lập kế hoạch gồm ba nội dung chủ yếu sau: - Dự đoán, dự báo nhu cầu phát triển.
- Chuẩn đoán, đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức. - Xác định những mục tiêu, biện pháp và phƣơng tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đề ra. * Chức năng tổ chức Tổ chức thực hiện kế hoạch là quá trình sắp xếp và phân phối các nguồn lực để hiện thực hoá các mục tiêu đã đề ra, là sự sắp đặt một cách khoa học những con ngƣời, những công việc một cách hợp lý, là sự phối hợp các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 tác động bộ phận tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của nó lớn hơn nhiều so với tổng số các hiệu quả của các tác động thành phần. Công tác tổ chức gồm ba nhiệm vụ chính dƣới đây: - Xác định cấu trúc của bộ máy - Tiếp nhận và phân phối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy - Xác lập cơ chế phối hợp giữa các bộ phận, các thành viên trong tổ chức.
* Chức năng chỉ đạo Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hƣởng qua lại của chủ thể quản lí đến hành vi và thái độ của những thành viên trong tổ chức nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đề ra. Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm: - Chỉ huy, ra lệnh - Động viên, khen thƣởng - Theo dõi, giám sát - Uốn nắn và điều chỉnh * Chức năng kiểm tra Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lí nhằm đánh giá trạng thái của hệ thống, xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đƣợc ở mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót, lệch lạc tìm ra nguyên nhân của những sai sót, những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, điều chỉnh và tạo thông tin cho quá trình quản lí tiếp theo. Bốn chức năng quản lí có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lí. Chu trình quản lí gồm 4 giai đoạn với sự tham gia của 2 yếu tố quan trọng: Thông tin và quyết định, trong đó thông tin có vai trò là huyết mạch của hoạt động quản lí.
Chức năng kiểm tra đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động quản lí đồng thời là tiền đề của một quá trình quản lí tiếp theo. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 Sơ đồ chu trình quản lí KẾ HOẠCH KIỂM TRA THÔNG TIN TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO 1. Quản lí giáo dục Giáo dục là một hoạt động đặc trƣng của lao động xã hội. Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội qua các thế hệ, đồng thời là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Để hoạt động này có hiệu quả, giáo dục phải đƣợc tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống thống nhất. Điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tƣơng đối trong giáo dục, đó là hoạt động quản lí giáo dục. Quản lí giáo dục đƣợc xem nhƣ một hoạt động chuyên biệt để quản lí thống nhất các cơ sở giáo dục. Cũng giống nhƣ khái niệm quản lí, khái niệm quản lí giáo dục cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau.
- Theo các nhà lý luận Xô Viết: “Quản lí giáo dục là tập hợp các biện pháp (tổ chức, phƣơng pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ thống giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng.” Theo Trần Kiểm ở cấp vĩ mô có thể hiểu: “Quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội ”. Đối với cấp vi mô: “Quản lí giáo dục đƣợc hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, công nhân viên, cha mẹ học sinh và các lực lƣợng trong và ngoài nhà trƣờng nhằm thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trƣờng” [33]. - Theo Nguyễn Ngọc Quang “Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lí (Hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trƣờng XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đƣa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25]. Nhƣ vậy, từ các quan điểm trên có thể hiểu: Quản lí giáo dục là quá trình tác động có định hƣớng của nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phƣơng pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đề ra.
Những tác động đó thực chất là những tác động khoa học đến nhà trƣờng, làm cho nhà trƣờng tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy và học theo mục tiêu đào tạo. Quản lí nhà trƣờng Có nhiều định nghĩa quản lí trƣờng học, từ góc độ quản lí nhà nƣớc đối với đơn vị sự nghiệp (Phạm Minh Hạc, Nguyễn Ngọc Quang…) cho đến những cách hiểu trực tiếp hơn về quản lí ngành gắn với tổ chức cụ thể Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 13 là trƣờng học (Vũ Ngọc Hải, Phan Văn Kha, Trần Kiểm…). Những định nghĩa này đều nhấn mạnh quản lí trƣờng học là quá trình hay hệ thống tác động đến đối tƣợng quản lí trong phạm vi nhà trƣờng để đạt mục tiêu giáo dục theo đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách, pháp luật và chƣơng trình giáo dục qui định. Khái niệm quản lí trƣờng học có 2 nghĩa tƣơng đối khác nhau.
Theo nghĩa rộng, quản lí trƣờng học chính là quản lí giáo dục tại cơ sở giáo dục. Khi đó, bản thân trƣờng học vẫn là đối tƣợng quản lí vĩ mô, chủ thể quản lí gồm nhiều cấp khác nhau: cấp trung ƣơng, cấp địa phƣơng và cấp trƣờng. Theo nghĩa hẹp hơn, quản lí trƣờng học là hệ thống quản lí giáo dục tại cấp trƣờng do hiệu trƣởng đứng đầu và cùng với bộ máy dƣới quyền mình điều hành, trong phạm vi trƣờng mình. Trong đề tài này, khái niệm quản lí trƣờng học đƣợc sử dụng theo nghĩa thứ hai, tức là quản lí giáo dục tại cấp trƣờng do hiệu trƣởng và bộ máy quản lí dƣới quyền hiệu trƣởng tiến hành.
Nội dung quản lí trƣờng học.