Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở Đăk Glong, Đắk Nông

Luận văn thạc sĩ giáo dục phân tích quản lý hoạt động dạy học môn tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học trên, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2020

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại Đăk Glong là một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện nay. Đặc biệt, việc này không chỉ giúp học sinh tiếp cận với ngôn ngữ chính thức mà còn góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Theo nghiên cứu của UBND tỉnh Đắk Nông, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số cần được chú trọng hơn nữa để nâng cao chất lượng giáo dục.

1.1. Đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số tại Đăk Glong

Học sinh dân tộc thiểu số tại Đăk Glong thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận tiếng Việt do ngôn ngữ mẹ đẻ khác biệt. Điều này ảnh hưởng đến khả năng học tập và giao tiếp của các em. Nghiên cứu cho thấy, nhiều em chưa quen với tiếng Việt trước khi vào lớp 1, dẫn đến việc học gặp nhiều trở ngại.

1.2. Vai trò của tiếng Việt trong giáo dục

Tiếng Việt không chỉ là ngôn ngữ giao tiếp mà còn là công cụ giúp học sinh tiếp thu kiến thức từ các môn học khác. Việc thành thạo tiếng Việt sẽ giúp học sinh dân tộc thiểu số hòa nhập tốt hơn vào môi trường học tập và xã hội.

II. Thách thức trong quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số

Quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại Đăk Glong đối mặt với nhiều thách thức. Những khó khăn này không chỉ đến từ học sinh mà còn từ hệ thống giáo dục và môi trường xã hội. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục.

2.1. Khó khăn trong việc giảng dạy

Giáo viên gặp khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức do sự khác biệt ngôn ngữ và văn hóa. Nhiều giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về phương pháp dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số.

2.2. Thiếu tài liệu và phương tiện dạy học

Tài liệu dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số còn hạn chế. Việc thiếu các phương tiện hỗ trợ như sách giáo khoa phù hợp cũng làm giảm hiệu quả dạy học.

III. Phương pháp quản lý dạy học tiếng Việt hiệu quả cho học sinh dân tộc thiểu số

Để nâng cao hiệu quả quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, cần áp dụng các phương pháp quản lý hiện đại và phù hợp với đặc điểm của học sinh. Các biện pháp này sẽ giúp cải thiện chất lượng giáo dục.

3.1. Đào tạo giáo viên chuyên môn

Cần tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên về phương pháp dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Điều này sẽ giúp giáo viên có thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết để giảng dạy hiệu quả.

3.2. Phát triển tài liệu dạy học

Cần xây dựng và phát triển các tài liệu dạy học phù hợp với học sinh dân tộc thiểu số. Tài liệu này nên được thiết kế dễ hiểu, gần gũi với văn hóa và ngôn ngữ của các em.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong quản lý dạy học tiếng Việt

Việc áp dụng các biện pháp quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số đã mang lại những kết quả tích cực. Các trường học tại Đăk Glong đã có những cải tiến đáng kể trong công tác giảng dạy.

4.1. Kết quả khảo sát thực trạng

Khảo sát cho thấy, sau khi áp dụng các biện pháp quản lý mới, tỷ lệ học sinh đạt yêu cầu môn tiếng Việt đã tăng lên rõ rệt. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc cải tiến phương pháp dạy học.

4.2. Mô hình dạy học hiệu quả

Một số mô hình dạy học tích cực đã được triển khai, giúp học sinh dân tộc thiểu số tiếp cận tiếng Việt một cách tự nhiên và hiệu quả hơn. Các mô hình này cần được nhân rộng trong toàn huyện.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Quản lý dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số tại Đăk Glong cần được tiếp tục cải tiến và phát triển. Các biện pháp đã được đề xuất sẽ là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số.

5.1. Đề xuất chính sách hỗ trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ từ chính quyền địa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy học tiếng Việt. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số.

5.2. Tương lai của giáo dục tiếng Việt

Trong tương lai, việc dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số sẽ tiếp tục được chú trọng. Các nghiên cứu và cải tiến sẽ giúp nâng cao hiệu quả giáo dục, góp phần phát triển bền vững cho cộng đồng.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động dạy học môn tiếng việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện đăk glong tỉnh đắk nông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu ở trường tiểu học 1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước Ở Xô Viết trước đây, những nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng: “Kết quả toàn bộ hoạt động quản lý hoạt động của nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức đúng đắn và hợp lý hoạt động dạy học của đội ngũ giáo viên” (được trích dẫn bởi Nguyễn Quốc Nghĩa, 2016). Vào cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà quản lý giáo dục quan tâm, nổi bật đó là: Cômenxki (1592-1670), ông cho rằng giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Xukhomlinxki đã tìm ra nhiều cách phân tích sư phạm giáo viên.

John Dewey (1859 - 1952 ) đã phê phán cách thức tổ chức hoạt động dạy học áp đặt, thiếu động lực phát triển các kĩ năng giao tiếp của học sinh. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người. Do đó ta nhận thấy vai trò của ngôn ngữ là rất quan trọng trong xã hội. Trong giáo dục, ngôn ngữ cũng giữ vai trò quan trọng.

Theo Kaihua Li ( 2013) ngôn ngữ chính trong các trường học là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Theo Bhowmil (2016), học sinh dân tộc thiểu số thường gặp những khó khăn trong học tập tại trường học. Có trường hợp các em không thể theo kịp chương trình đành phải bỏ học. Lí do là vì các em bị hạn chế bởi ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, khác biệt trong văn hóa học đường.

Trong nghiên cứu của mình, Bhowmil tiến hành phỏng vấn sâu một số học sinh đã nghỉ học là người Nepal sống ở Hồng Kông. Số học sinh bỏ học này cho rằng nguyên nhân bỏ học do không thể theo kịp chương trình học, học lực yếu môn Toán và Khoa học do bất 8 đồng về ngôn ngữ, phân biệt chủng tộc, khác biệt văn hóa trong học đường, ít quan tâm của giáo viên. Nghiên cứu của Chun Lai (2014) cho rằng giữa việc học ngôn ngữ thứ hai với việc xác định hướng tiếp cận có mối quan hệ với nhau. Việc lựa chọn hướng tiếp cận văn hóa ảnh hưởng đến kết quả học ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số.

Một nghiên cứu của Shum và Gao (2011) chỉ rằng để dạy học ngôn ngữ Trung Quốc cho học sinh dân tộc thiểu số đạt kết quả cao thì giáo viên và các nhà nghiên cứu cần tìm hạn chế trong sử dụng tiếng Trung Quốc của học sinh từ đó đưa ra các phương pháp dạy phù hợp để bồi dưỡng động lực học tiếng Trung. Shum và Gao tiến hành khảo sát 300 học sinh gốc Nam Á về năng lực thực hành tiếng Trung Quốc, tiếng Anh và Tiếng mẹ đẻ. Nghiên cứ cho thấy người học ít đầu tư để học và thực hành tiếng Trung Quốc. Học sinh không có động lực để học tiếng Trung Quốc do thiếu sự hỗ trợ đầy đủ của gia đình, giáo viên.

Để học sinh dân tộc thiểu số học tốt tiếng Trung Quốc cần có sự hỗ trợ tốt từ phía gia đình học sinh và giáo viên. Nghiên cứu của Tedick (2012) về vấn đề học ngoại ngữ của học sinh người Mỹ gốc Phi. Tác giả đã tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh .Qua khảo sát thực trạng, tác giả đưa ra kết luận rằng yếu tố quan trọng trong học ngoại ngữ là : vai trò các bên liên quan, kiến thức mà học sinh đã học ở lớp dưới, chương trình giảng dạy phù hợp. Trong đề tài nghiên cứu của mình tác giả tiến hành khảo sát học sinh là người Mỹ gốc Phi trong thành phố và ngoại thành về đăng ký học ngoại ngữ.

Kết quả là số lượng học sinh người Mỹ gốc phi tham gia đăng ký học ngoại ngữ và duy trì quá trình học tập thấp do vấn đề phân biệt chủng tộc, ngữ pháp, giáo trình học. Việc học ngoại ngữ của học sinh bị hạn chế cũng do thiếu khuyến khích của người cố vấn học tập và giáo viên. Chương trình giảng dạy phù hợp thực tiến, nhẹ về lý thuyết và ngữ pháp cũng là những thuận lợi cho việc học ngoại ngữ. Tác giả đã đưa ra các biện pháp cải thiện học ngoại ngữ cho học sinh người Mỹ gốc Phi : Trình độ ngoại ngữ phải được đưa vào yêu cầu của một khóa tốt nghiệp, phát triển hệ thống tuyển dụng, … 9 Tại Campuchia, giáo dục cho học sinh dân tộc thiếu số gặp nhiều khó khăn.

Frawley (2019) đã xây dựng mô hình học tập đa ngôn ngữ tại tỉnh Ratnak Kiri. Mô hình này mang lại hiệu quả cao trong giáo dục học sinh dân tộc thiểu số và đã được ứng dụng rộng trên đất nước Campuchia. Mô hình học tập đa ngôn ngữ ( MLE) được tổ chức phát triển Quốc tế CARE phối hợp với Chính phủ Hoàng gia Campuchia và các tổ chức khác như UNICEF triển khai thực hiện nhằm phát phát triển giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số ở tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình này sử dụng tiếng dân tộc thiểu số và tiếng Khmer để giảng dạy ở trường học.

Chan ( 2013) đã tiến hành nghiên cứu về những thách thức của giáo viên trong dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số tại Hồng Kông cho rằng những yếu tố ảnh hưởng đến dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số là nguồn lực, ưu tiên, văn hóa và hỗ trợ. Theo nghiên cứu trên, dù chính phủ Hồng Kông đã hỗ trợ ngân sách cho giáo dục học sinh dân tộc thiểu số nhưng vẫn chưa đáp ứng được, chưa được sử dụng hiệu quả do chưa có sự hướng dẫn cụ thể và đầy đủ của cấp trên trong sử dụng nguồn ngân sách. Chính sách ưu tiên cho học sinh ở trường chưa đủ. Học sinh dân tộc thiểu số bị đối sử chưa công bằng so với học sinh khác.

Giáo viên chịu áp lực nhiều bởi khối lượng công việc lớn. Văn hóa cũng là yếu tố khiến cho học sinh dân tộc thiểu số không nỗ lực trong học tập. Tóm lại: Trên thế giới, các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý giáo dục đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục và quản lý giáo dục, giáo dục cho người dân tộc thiểu số. Mỗi tác giả đều có những nhận định riêng về sự cần thiết để nâng cao kết quả giáo dục cho học sinh người dân tộc thiểu số.

Nhưng đều đưa ra quan điểm chung là kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số không cao so với nhóm học sinh còn lại. Một số nguyên nhân xuất phát từ nhiều yếu tố như cơ chế, chính sách của nhà nước, sự quan tâm của gia đình và xã hội, văn hóa dân tộc, tâm lý của học sinh khi học tập tại trường, ảnh hưởng của kết quả giáo dục ở các lớp dưới. Tuy nhiên, lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số còn ít, biện pháp quản lý hoạt 10 động dạy học chưa được nghiên cứu nhiều. Điều này phần nào hạn chế về lý luận và chất lượng dạy học môn Tiếng Việt còn chưa cao.2 Tình hình nghiên cứu trong nước Giáo dục vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nươc quan tâm, đầu tư.

Luật Giáo dục (2019) “ Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục, phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, địa bàn có khu công nghiệp.” Việt nam có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống tạo thành một đất nước đa dạng về văn hóa, cùng nhau đoàn kết giữ gìn và bảo vệ Tổ Quốc. Trong thời buổi kinh tế hội nhập như ngày nay, một số dân tộc thiểu số của nước ta còn chưa theo kịp xu thế, đời sống còn khó khăn, trình độ dân trí thấp. Vấn đề cải thiện đời sống, nâng cao dân trí các vùng khó khăn vùng dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước, các cơ quan quan tâm chỉ đạo. Ví dụ: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có công văn số số 8114/BGDĐT-GDTH v/v Nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số.

(Hồ Thị Quỳnh Thoa, n.d) cho rằng lúc sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh luân quan tâm đến đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Người thường đến thăm hỏi các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc, động viên cán bộ người dân tộc thiểu số. Người khẳng định “ Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa” Giáo dục cho học sinh dân tộc thiểu số ở Việt Nam luôn được các nhà quản lý và Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm. Nhóm chuyên gia Save the Children và Bộ Giáo Dục và Đào Việt Nam (2019) đã nêu rõ nguyên nhân kết quả giáo dục học sinh dân tộc thiểu số kém là do giáo viên dạy hầu hết là người Kinh không thể giao tiếp với học sinh của mình, kinh tế khó khăn, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học không đáp ứng, chương trình không phù hợp với ngôn ngữ của học sinh.

Hội thảo đã đưa ra giải pháp là dạy học đa dạng tiếng mẹ đẻ và kết hợp dạy song ngữ. Theo Mông Ký Slay và cộng sự (2006), đối với học sinh người Kinh, thì học tiếng Việt là học tiếng mẹ đẻ còn học sinh dân tộc thiểu số học tiếng Việt là 11 học ngôn ngữ thứ hai. Học sinh người Kinh học tiếng Việt là học tiếng mẻ đẻ. Trước khi đi học học sinh người Kinh đã có tiếng Việt đủ để tìm hiểu thế giới xung quanh.

Các em đã có thời gian khoảng 5 năm học và sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ (tiếng Việt) với vốn từ khoảng 4000 – 4.500 từ và biết những cấu trúc câu cơ bản. Trong khi đó đối với học sinh dân tộc thiểu số, ở nhà các em chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) trong giao tiếp hằng ngày. Vốn tiếng Việt của các em rất ít, thậm chí không có gì, nếu có cũng chưa chuẩn xác về cách phát âm và sử dụng. Chương trình tiếng Việt đang áp dụng ở các trường tiểu học hiện nay xây dựng trên nguyên tắc dạy tiếng Việt cho người học tiếng mẹ đẻ.

Theo Trần Thị Kim Hoa ( 2019) để phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt cho học sinh người dân tộc Tày thì cần thông qua bài tập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ