Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng theo Đề án Ngoại ngữ Quốc gia giai đoạn 2008-2020 của Thủ tướng Chính phủ, việc nâng cao năng lực tiếng Anh cho học sinh phổ thông đã trở thành nhiệm vụ chiến lược của ngành giáo dục. Tuy nhiên, tại Trường THPT Nguyễn Trãi (tỉnh Ninh Thuận) – một ngôi trường giàu truyền thống thành lập từ năm 1953 với quy mô lên tới 2.748 học sinh phân bố ở 57 lớp học, chất lượng dạy và học môn tiếng Anh trong giai đoạn 2010-2015 vẫn còn nhiều hạn chế đáng lo ngại. Số liệu thống kê năm học 2010-2011 cho thấy tỷ lệ học sinh đạt học lực giỏi toàn diện chỉ chiếm 0,6%, trong khi tỷ lệ học sinh xếp loại học lực yếu kém môn ngoại ngữ hằng năm luôn ở mức trên 10%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn xuất phát từ thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh tại đơn vị còn mang nặng tính đối phó, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, cơ sở vật chất thiếu thốn và khâu quản lý chuyên môn của Ban Giám hiệu chưa thực sự đồng bộ. Mục tiêu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng giảng dạy của đội ngũ 11 giáo viên và quá trình học tập của học sinh, từ đó đề xuất hệ thống biện pháp quản lý giáo dục khả thi nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào công tác quản lý tại Trường THPT Nguyễn Trãi từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015. Ý nghĩa của luận văn thể hiện ở việc cung cấp giải pháp tối ưu hóa 100% quy trình chỉ đạo chuyên môn, chuyển biến căn bản nhận thức từ dạy ngữ pháp thụ động sang rèn luyện toàn diện 4 kỹ năng giao tiếp cho gần 3.000 học sinh khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết quản trị tổ chức kinh điển của Frederick Winslow Taylor về tối ưu hóa quy trình thực thi công việc và mô hình quản trị chức năng của Harold Koontz. Đồng thời, tác giả vận dụng sâu sắc các luận điểm quản lý giáo dục Việt Nam của các chuyên gia đầu ngành như Giáo sư Trần Kiểm, Giáo sư Phạm Minh Hạc và Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Quang. Mô hình nghiên cứu vận hành dựa trên 4 khái niệm nền tảng:

Thứ nhất, Quản lý giáo dục được xác định là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm vận hành bộ máy sư phạm đạt mục tiêu phát triển nhân cách người học.

Thứ hai, Quản lý nhà trường bao gồm việc điều phối 7 thành tố cốt lõi: mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, đội ngũ giáo viên, tập thể học sinh, cơ sở vật chất và mối quan hệ nhà trường - gia đình - xã hội.

Thứ ba, Hoạt động dạy học môn Tiếng Anh mang tính đặc thù cao, là quá trình tương tác hai chiều trong đó giáo viên giữ vai trò cố vấn, tổ chức môi trường giao tiếp và học sinh chủ động chiếm lĩnh 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc, Viết.

Thứ tư, Chu trình quản lý hoàn chỉnh bao gồm 4 chức năng liên hoàn: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Chỉ đạo và Kiểm tra - Đánh giá theo đúng tinh thần quy định tại Điều 7 Luật Giáo dục năm 2005 và Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ 16 văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết năm học của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Thuận, kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn năm học 2014-2015. Nghiên cứu triển khai phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với 4 nhóm mẫu khảo sát độc lập:

  • Cỡ mẫu cán bộ quản lý và giáo viên: 15 người (gồm 4 cán bộ Ban Giám hiệu và 11 giáo viên thuộc tổ Ngoại ngữ) nhằm đánh giá nhận thức quản lý và thực trạng quản trị chuyên môn.
  • Cỡ mẫu học sinh khối 11 và 12: 70 học sinh (thuộc các lớp 11A2 và 12A2) khảo sát về mức độ thực hiện các kỹ năng và phương pháp giảng dạy của giáo viên.
  • Cỡ mẫu học sinh khối 10: 45 học sinh (lớp 10A1) khảo sát chuyên sâu về động lực và thói quen tự học.
  • Cỡ mẫu đánh giá cơ sở vật chất: 30 học sinh phối hợp cùng 15 cán bộ giáo viên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng kết hợp phỏng vấn sâu định tính là nhằm kiểm chứng chéo thông tin giữa chủ thể quản lý, người dạy và người học. Dữ liệu được xử lý bằng toán thống kê mô tả (tính tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình), giúp phản ánh chân thực các biến số thực trạng trước khi xây dựng giải pháp can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại Trường THPT Nguyễn Trãi đã chỉ ra 4 phát hiện cốt lõi về hoạt động dạy học và quản lý bộ môn tiếng Anh:

Thứ nhất, có sự mất cân đối nghiêm trọng giữa các kỹ năng ngôn ngữ do áp lực thi cử. 100% cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh khẳng định nội dung Ngữ pháp và Đọc hiểu được thực hiện thường xuyên trên lớp. Ngược lại, kỹ năng Nghe chỉ có 40% giáo viên thực hiện thường xuyên (20% không bao giờ dạy nghe), kỹ năng Nói đạt 50%, và kỹ năng Viết đạt 45%.

Thứ hai, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới và thiếu tương tác hai chiều. 100% giáo viên sử dụng bảng phấn truyền thống làm phương tiện chủ đạo; có tới 27% giáo viên không bao giờ sử dụng phương tiện dạy học tích cực; 78% giáo viên không bao giờ lấy ý kiến phản hồi của học sinh sau khi kết thúc môn học và 79% không chú ý tìm hiểu những khó khăn học sinh gặp phải.

Thứ ba, động lực và kỹ năng tự học của học sinh ở mức rất thấp. 80% học sinh khẳng định động lực học tiếng Anh lớn nhất là để thi đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông, trong khi chỉ 35% học vì yêu thích. Trong hoạt động tự học tại nhà, có đến 72% học sinh không bao giờ lập kế hoạch tự học, 75% không chủ động rèn luyện kỹ năng thực hành với thầy cô, bạn bè và 80% không bao giờ tự kiểm tra kết quả học tập.

Thứ tư, thiếu hụt trầm trọng cơ sở vật chất chuyên dụng. Nhà trường có 0% phòng học tiếng đa phương tiện; toàn bộ tổ Ngoại ngữ chỉ có 2 máy cassette cũ; trong khi sĩ số lớp học dao động từ 45 đến 50 học sinh/lớp, vượt xa quy chuẩn tối ưu từ 15 đến 25 học sinh đối với một lớp học ngoại ngữ giao tiếp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các hạn chế trên xuất phát từ sự thiếu đồng đều về trình độ của đội ngũ: trong số 11 giáo viên tiếng Anh của trường, chỉ có 6 người tốt nghiệp sư phạm chính quy, 5 người tốt nghiệp ngoài sư phạm hoặc học văn bằng hai; 0% giáo viên từng được đi học tập hay bồi dưỡng ở nước bản ngữ. Mặt khác, thói quen kiểm tra đánh giá trên giấy chủ yếu kiểm tra ngữ pháp đã triệt tiêu động lực rèn luyện kỹ năng Nghe - Nói.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ hình cột so sánh độ lệch 60% giữa tần suất dạy Ngữ pháp/Đọc hiểu so với kỹ năng Nghe/Nói, cùng bảng ma trận tương quan thể hiện mối liên hệ tỷ lệ nghịch giữa sĩ số lớp học (45-50 em) với hiệu quả tổ chức hoạt động thảo luận nhóm. Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của các tác giả tại các trường cao đẳng, đại học sư phạm, khẳng định rằng nếu Ban Giám hiệu không đổi mới đồng bộ từ khâu kiểm tra đánh giá đến đầu tư trang thiết bị thì không thể nâng cao năng lực giao tiếp thực tế cho học sinh.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các hạn chế nêu trên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý mang tính đột phá:

Thứ nhất, chuẩn hóa và nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên tiếng Anh. Ban Giám hiệu chỉ đạo Tổ Ngoại ngữ xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, tổ chức sinh hoạt chuyên môn theo chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy giao tiếp, đặt mục tiêu 100% giáo viên đạt chuẩn năng lực ngôn ngữ bậc 5 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương trình độ C1) trong lộ trình 2 năm học từ năm 2015 đến năm 2017.

Thứ hai, cải tiến quy trình kiểm tra đánh giá và quản lý nề nếp chuyên môn. Ban Giám hiệu và Tổ trưởng bộ môn chỉ đạo tích hợp tối thiểu 30% đến 40% trọng số điểm cho hai kỹ năng Nghe và Nói trong các bài kiểm tra định kỳ 15 phút, 1 tiết; đồng thời quy định bắt buộc 100% giáo viên phải thực hiện lấy ý kiến phản hồi của học sinh vào cuối mỗi học kỳ để điều chỉnh phương pháp dạy học.

Thứ ba, xây dựng môi trường giao tiếp và đổi mới quản lý hoạt động tự học của học sinh. Đoàn Thanh niên phối hợp với Tổ Ngoại ngữ duy trì Câu lạc bộ Tiếng Anh định kỳ 2 lần/tháng, hướng dẫn 100% học sinh khối 10 và 11 phương pháp tự học qua mạng Internet, phấn đấu nâng tỷ lệ học sinh có kế hoạch tự học thường xuyên từ 8% hiện nay lên trên 45% sau 1 năm thực hiện.

Thứ tư, tăng cường đầu tư và quản lý khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật. Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Thuận cùng nhà trường ưu tiên nguồn kinh phí xây dựng 1 đến 2 phòng học tiếng đa phương tiện đạt chuẩn, trang bị máy chiếu đa phương tiện cho 100% phòng học chính khóa, tiến tới chia tách lớp học ngoại ngữ xuống quy mô 25-30 học sinh/lớp trước năm học 2017-2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, Cán bộ quản lý và Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông: Tài liệu cung cấp trọn bộ khung giải pháp quản lý đồng bộ 4 chức năng (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và các tiêu chí đánh giá giờ dạy tiếng Anh theo định hướng tiếp cận năng lực.

Thứ hai, Giáo viên giảng dạy môn Tiếng Anh bậc phổ thông: Nắm bắt các kỹ thuật thiết kế bài giảng tích cực, phương pháp khắc phục rào cản lớp học đông từ 45-50 học sinh và cách thức sử dụng hiệu quả phương tiện công nghệ thông tin trong tiết dạy.

Thứ ba, Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Tham khảo một mô hình nghiên cứu điển hình về phương pháp luận kết hợp khảo sát định lượng, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình phân tích số liệu thống kê chuẩn mực.

Thứ tư, Chuyên viên phụ trách chuyên môn tại Sở Giáo dục và Đào tạo: Vận dụng cơ sở dữ liệu thực chứng và 4 nguyên tắc quản lý (tính hệ thống, tính thực tiễn, tính hiệu quả, tính đồng bộ) để xây dựng chính sách bồi dưỡng giáo viên và quy hoạch trang thiết bị dạy học ngoại ngữ trên địa bàn toàn tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến chất lượng dạy học tiếng Anh tại Trường THPT Nguyễn Trãi chưa cao giai đoạn 2010-2015 là gì? Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc dạy học nặng về truyền thụ ngữ pháp để phục vụ thi cử, 100% thời lượng tập trung vào đọc hiểu và ngữ pháp trong khi kỹ năng nghe chỉ đạt 40%. Thêm vào đó, sĩ số lớp học quá đông (45-50 học sinh) và thiếu phòng học tiếng chuyên dụng làm triệt tiêu không gian giao tiếp thực hành.

Trình độ của 11 giáo viên tiếng Anh tại trường có đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình không? Mặc dù đội ngũ giáo viên rất nhiệt tình và có 1 giáo viên đạt trình độ thạc sĩ, nhưng tính đồng đều chưa cao khi có 5 người đào tạo ngoài sư phạm hoặc học văn bằng hai. Đặc biệt, 0% giáo viên từng được tu nghiệp tại nước bản ngữ, dẫn đến sự hạn chế về phản xạ giao tiếp tự nhiên và kỹ năng ứng dụng công nghệ hiện đại.

Tại sao có đến 72% học sinh không bao giờ lập kế hoạch tự học môn tiếng Anh? Thực tế học sinh xuất thân từ khu vực nông thôn và thành thị nhỏ chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của ngoại ngữ cho tương lai, có tới 80% chỉ học để thi tốt nghiệp. Ngoài ra, giáo viên chưa dành thời gian hướng dẫn phương pháp tự học, dẫn đến việc các em hoàn toàn thụ động và chỉ làm bài tập khi bị thầy cô kiểm tra.

Việc đổi mới kiểm tra đánh giá đóng vai trò như thế nào trong các giải pháp quản lý? Đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu đột phá mang tính định hướng. Khi cấu trúc đề thi tích hợp từ 30% đến 40% kỹ năng Nghe và Nói, giáo viên sẽ bắt buộc phải chuyển từ phương pháp thuyết giảng bảng phấn sang tổ chức hoạt động tương tác, từ đó thúc đẩy học sinh rèn luyện toàn diện cả 4 kỹ năng ngôn ngữ.

Làm thế nào để tổ chức dạy học giao tiếp hiệu quả khi sĩ số lớp lên tới 50 học sinh? Nhà trường cần linh hoạt phân nhóm học tập nhỏ từ 4-6 học sinh, giao nhiệm vụ đóng vai theo tình huống cụ thể kết hợp ứng dụng thiết bị trình chiếu. Về mặt lâu dài, Ban Giám hiệu cần kiến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo cho phép chia đôi lớp học trong các giờ thực hành nghe nói để đưa sĩ số về chuẩn 25 học sinh/lớp.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp tại trường trung học phổ thông.
  • Phân tích toàn diện thực trạng giáo dục tại Trường THPT Nguyễn Trãi với quy mô 2.748 học sinh, chỉ ra sự chênh lệch lớn giữa 100% chú trọng ngữ pháp và dưới 50% thời lượng dành cho rèn luyện kỹ năng nghe nói.
  • Đề xuất hệ thống 6 nhóm biện pháp quản lý khả thi, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo 11 giáo viên tổ Ngoại ngữ với đổi mới kiểm tra đánh giá và nâng cấp trang thiết bị dạy học.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường, giảm tỷ lệ học sinh yếu kém môn tiếng Anh từ mức trên 10% xuống dưới 5% trong giai đoạn 2015-2020.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc xây dựng môi trường ngoại ngữ tương tác nhằm xóa bỏ hoàn toàn thói quen học đối phó của 80% học sinh phổ thông.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp cẩm nang hành động thực chứng cho các nhà quản lý giáo dục phổ thông trong thời kỳ hội nhập. Ban Giám hiệu các trường THPT cần khẩn trương áp dụng quy trình quản lý 4 chức năng và lộ trình chuẩn hóa chuyên môn giai đoạn 2016-2018. Hãy tham khảo và vận dụng ngay các giải pháp từ luận văn để tạo bước chuyển biến đột phá cho chất lượng dạy học ngoại ngữ tại đơn vị!