Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành - Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học ngoại ngữ chuyên ngành ở ĐHQGHN - Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh chuyên ngành ở ĐHQGHN Cuối luận văn là phần danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ CHUYÊN NGÀNH 1. Một số nét về lịch sử nghiên cứu của đề tài Quản lý hoạt động dạy và học ngoại ngữ là một phần quan trọng trong chương trình phát triển GD ở nhiều nước trên thế giới. Các hình thức HĐ dạy và học NN diễn ra phong phú, đa dạng và đều nhằm mục đích thúc đẩy quá trình hội nhập của các nước, phục vụ cho việc phát triển kinh tế đất nước.
Xin nêu một số điển hình về HĐ dạy và học NN: Tại Singapore việc học từ bậc tiểu học lên ĐH cũng đều bằng tiếng Anh. Việc QL dạy và học NN đặc biệt là tiếng Anh được thực hiện chặt chẽ không chỉ trong hệ thống GD nhà trường mà còn được thể hiện ở các trung tâm. Sau khi nhận chức Thủ tướng Goh Chok Tông đã phê duyệt chiến lược phát triển GD lâu dài của Bộ GD trong đó có điểm nhấn là toàn bộ hệ thống GD phổ thông tại Singapore phải sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ bắt buộc bên cạnh tiếng Trung được sử dụng như một ngôn ngữ thứ 2 “used as a second language’’. Tại Trung Quốc việc dạy và học NN cũng được hết sức chú trọng.
Chính phủ Trung Quốc cho rằng cần xem các HĐ này là một phần quan trọng trong chương trình GD chung của quốc gia. Để nâng cao chất lượng và tăng cường số lượng người học NN, chính phủ đã đưa ra các quy định về trách nhiệm của GV và nhà trường, tăng cường các nguồn lực và các điều kiện cho việc tổ chức các HĐ dạy và học NN. Đối với hệ thống GD quốc dân, sau một loạt các cuộc cải cách nhỏ tháng 2 năm 1993 “Đề cương về cải cách và phát triển GD” của TW Đảng Cộng sản Trung Quốc chính thức ra đời bắt đầu cuộc cải cách đổi mới sâu rộng trong GD, quy định tiếng Anh phải được đưa vào dạy chính thức từ bậc tiểu học nhằm phục vụ thiết thực cho việc hội nhập mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực. Trung Quốc trở thành thị trường khổng lồ cho việc “xuất khẩu ngôn ngữ” của nước Anh.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tại Nhật Bản, Chính phủ thể hiện rõ quyết tâm đẩy mạnh HĐ dạy và học tiếng Anh ứng dụng ở quy mô toàn bộ nền GD. Cụ thể: trong vài năm gần đây tiếng Anh bắt đầu được đưa vào tiểu học, mục đích rèn kỹ năng giao tiếp đơn giản bước đầu cho học sinh, tránh gò ép về ngữ pháp và từ vựng. Đối với bậc trung học cơ sở, tiếng Anh được coi là 1 trong 5 môn chính, được ĐG quan trọng ngang với môn Quốc ngữ, Toán, Xã hội, Lý, Hóa. Ở bậc trung học phổ thông, tiếng Anh được coi như GD phổ cập với tỷ lệ theo học lên đến 95%.
Tiếng Anh được dạy như một NN duy nhất, rất ít trường dạy thêm các NN khác. Tại Nhật Bản nhiều trường đang áp dụng mô hình thí điểm dạy các môn chính bằng tiếng Anh gọi là Super English Language High School. Việc dạy và học tiếng Anh được tiến hành liên thông lên bậc ĐH và cao đẳng. Tiếng Anh được sử dụng làm ngôn ngữ chính trong nghiên cứu và GD (nhiều trường ĐH liên kết ĐT với các trường ĐH danh tiếng của Mỹ và Anh, các GV sử dụng tiếng Anh để giảng bài nên rất ít trường sử dụng các ngôn ngữ khác).
Bộ Khoa học đã triển khai KH HĐ để ĐT những người Nhật biết sử dụng Tiếng Anh, trong đó có nêu: “Tiếng Anh với vai trò ngôn ngữ quốc tế, giữ vị trí trung tâm trong việc kết nối các dân tộc khác ngôn ngữ. Để con em chúng ta vững bước vào thế kỷ 21, chúng ta không thể bỏ qua việc nâng cao vai trò giao tiếp bằng tiếng Anh với vai trò là một ngôn ngữ chung quốc tế”. Việc QL dạy và học NN cũng được đề cập tới trong một số tài liệu. Công trình nghiên cứu được nhiều người biết đến là của giáo sư James.Clauson trường ĐH Virginia xuất bản năm 2004.
Ông đã đưa ra một hệ thống các biện pháp QL GD nói chung và QL việc dạy và học NN nói riêng, trong đó nhấn mạnh đến yếu tố đổi mới PP giảng dạy – ĐG cao việc sử dụng các PP “Động não”; “Làm việc nhóm” và sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan trong KT, thi cử. Theo ông “bản thân NN là rất phong phú, thú vị vì nó cung cấp cho ta những hiểu biết về con người, văn hóa, địa lý, chính trị. của một dân tộc. NN không hề khô cứng, nó khô cứng do chính cái cách mà người dạy truyền tải nó”.
Ở nước ta hiện nay, việc QL dạy và học NN đã dần được chú trọng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của toàn xã hội, song chất lượng đạt được chưa 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Muốn HĐ dạy và học NN đạt kết quả tốt thì khâu QL phải chặt chẽ, thống nhất từ trên xuống. Muốn dạy và học NN đem lại kết quả thực sự cần hội đủ các yếu tố như số lượng và chất lượng đội ngũ GV, chương trình, sách giáo khoa, trang thiết bị, PP dạy và học, cách thức KT ĐG, tất cả được đặt trong một cơ chế QL khoa học, hiệu quả. Qua quá trình nghiên cứu, đã có rất nhiều đề tài, báo cáo khoa học và luận văn thạc sỹ của Trường ĐHNN nói về HĐ DH NN hay HĐ DH NNCN như: Báo cáo khoa học cấp khoa “Dạy - học ngoại ngữ chuyên ngành tại các cơ sở đào tạo trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội: Những rào cản và giải pháp” của ThS.
Kim Văn Tất, nguyên Trưởng Khoa NNCN; hay đề tài khoa học cấp trường “Tạo ra và duy trì hứng thú học ngoại ngữ chuyên ngành cho sinh viên của Đại học Quốc gia Hà Nội” do ThS. Kim Văn Tất làm chủ nhiệm đề tài; và còn rất nhiều luận văn thạc sỹ của Trường như “Đánh giá tác động của bài kiểm tra tiếng Anh Thương mại cuối kỳ dành cho sinh viên năm thứ 2 trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đến việc giảng dạy của giáo viên bộ môn tiếng Anh Kinh tế - Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội” của học viên Phạm Thu Hà hay “Nghiên cứu chiến lược đọc hiểu tiếng Anh của sinh viên năm thứ hai chuyên ngành Cầu đường, Trường Đại học Giao thông Vận tải” của học viên Nguyễn Thị Thu Hà. Tuy nhiên, về QL HĐ DH TACN chúng tôi chưa thấy công trình chuyên biệt nào hướng dẫn hoặc chỉ ra cụ thể cách thức tiến hành. Việc xây dựng cơ sở lý luận cho QL HĐ dạy và học NN sẽ giúp cho nhà QL có cơ sở điều hành công việc CM của nhà trường nói chung và HĐ dạy và học NN nói riêng đạt kết quả tốt.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và các khái niệm liên quan đến quản lý 1. Quản lý Khoa học QL xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan, được ra đời một cách tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi tổ chức, mọi quốc gia, mọi thời đại.
Lao động QL là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các bình diện, khoa học QL gắn liền với 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến trình phát triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, giai cấp, dân tộc, thời đại. QL là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời QL còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy, người ta có thể tiếp nhận khái niệm QL theo nhiều cách khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích HĐ. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm: Theo K.Marx: QL là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động.
Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua HĐ của con người và thông qua QL. Người viết: “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến sự chỉ đạo để điều hoà những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [21,tr.Taylo - người được mệnh danh là cha đẻ của lý luận QL khoa học, đã cho rằng cốt lõi trong QL là: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải CM hoá và phải QL chặt chẽ”. “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào bằng PP tốt nhất và rẻ nhất” [16,tr.
Theo Henri Fayol, ông nói về nội hàm của khái niệm QL như sau: “QL tức là lập KH, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và KT” [14,tr. Năm yếu tố trên đã tồn tại như những chuẩn mực được tuân theo một cách phổ biến trong QL hiện đại. - Theo Đại từ điển tiếng Việt: QL là “tổ chức, điều khiển HĐ của một đơn vị, một cơ quan”, là “trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì” [24,tr1363]. Nghĩa Hán Việt của “Quản” là trông coi và gìn giữ theo những yêu cầu nhất định, duy trì sự vật ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” bao gồm sửa sang, sắp đặt công việc, đổi mới, đưa hệ thống đó vào phát triển.
Trong “quản” phải có “lý” thì toàn hệ mới có thể phát triển, trong “lý” phải có “quản” thì sự phát triển của hệ mới ổn định, bền vững [16,tr. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì mới đạt được thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.