Chương 1: Cơ sở lý luận về QL HĐDH, QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng công tác QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở các trường THCS huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Chương 3: Các biện pháp QL nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở các trường THCS huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO TIẾP CẬN PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông.
Nhiều nhà GD trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu, khái quát kinh nghiệm DH của loài người và nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác DH như: DH phát huy tính tích cực của HS, đảm bảo trực quan, hệ thống, liên tục, lý thuyết đi đôi với thực hành,… Điển hình là những công trình nghiên cứu của các tác giả Cômenxki, Colin Rose, Malcolm J. Nicholl, Zakharôp, Lecne, John W. Thomas, Piagiet, Tony Buzan, Nitko.M,… Quá trình phát triển GD của Việt Nam gắn với 5 thời kỳ lịch sử của dân tộc: Thời kỳ phong kiến và thuộc địa (trước năm 1945); từ ngày độc lập đến kháng chiến thứ nhất thắng lợi (1945 - 1954); những năm đất nước bị tạm thời chia cắt (1954 - 1975); giai đoạn từ năm 1975 đến 1986; những năm cuối thế kỷ XX đến nay. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, GD Việt Nam nói chung, HĐDH nói riêng đã chịu sự ảnh hưởng vô cùng to lớn của lịch sử phát triển xã hội.
Kể từ thời các vua Hùng dựng nước cho tới khi Ngô Quyền xưng vương, đánh tan quân Nam Hán, chấm dứt hơn nghìn năm Bắc thuộc, hầu như không có tài liệu nào nói về GD (với nghĩa hẹp là DH và dạy chữ). Tuy nhiên căn cứ vào việc sử sách ca ngợi công lao của thái thú Sỹ Nhiếp mở mang việc học tại Giao Chỉ và một số đoạn nói về một vài người Việt đỗ đạt làm quan ở phương Bắc, có thể nói trong thời Bắc thuộc đã có một tầng lớp người Việt biết chữ [7]. Hơn nữa, cùng với việc du nhập đạo Phật, chắc chắn chùa chiền phải là nơi dạy chữ để ĐT các nhà sư và truyền bá kinh kệ. Có thể nói trường học đầu tiên trong lịch sử xã hội Việt Nam đó là nhà chùa.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ hai, cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền GD dân tộc. Cơ sở GD đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám Thăng Long. Người học thời kỳ này chủ yếu là con quan, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian vào học. Người dạy ngoài những quan chức ở Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy (tương tự giáo sư thỉnh giảng ngày nay) [24].
Cho mãi đến sau này dù đã qua nhiều giai đoạn của lịch sử dân tộc, nền GD Việt Nam còn ảnh hưởng nhiều tư tưởng GD truyền thống, nặng về dạy lý thuyết, áp đặt truyền thụ một chiều, xem nhẹ thực hành và nhất là về vấn đề DH chưa chú ý xem xét hiểu biết về năng lực của người học. Hầu hết các chuyên gia sư phạm đều đưa ra những cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và phát huy hết năng lực của người học; HS được hướng dẫn, khuyến khích tự lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng mình. Ở nước ta, nhiều công trình nghiên cứu về QLGD, QL HĐDH đã có những đóng góp về lý luận và thực tiễn, tiêu biểu là các tác giả: Đặng Xuân Hải, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Minh Hạc, Hồ Ngọc Đại, Đặng Bá Lãm,… Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương 8 khóa XI Đảng Cộng sản Việt Nam và văn kiện Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam khóa XII cũng vẫn xác định: Cùng với khoa học và công nghệ, GD&ĐT là quốc sách hàng đầu; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của GD, ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học GD và khoa học QL. Như vậy QL HĐDH được xem là khâu đột phát để nâng cao chất lượng học tập của người học, là vấn đề nóng đã được quan tâm nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng DH trong nhà trường.
QL HĐDH trong nhà trường là công việc chính của người HT, vì vậy QL HĐDH luôn được các nhà nghiên cứu đề cập trong các công trình khoa học GD như giáo trình giảng dạy của trường đại học Sư phạm Hà Nội; Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD cũng có nhiều tác giả viết đề tài về QL HĐDH nhưng những đề tài về QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở trường THCS thì rất ít. Hiện nay đối với Phòng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com GD&ĐT Lý Nhân, tỉnh Hà Nam chưa có CBQL hay GV nào có công trình NCKH về QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở trường THCS. Vì vậy tôi nghiên cứu đề tài này là nhằm tìm hiểu thực trạng QL HĐDH nói chung, QL HĐDH theo tiếp cận năng lực HS nói riêng của HT các trường THCS huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Trên cơ sở đó đề ra biện pháp QL HĐDH theo tiếp cận phát triển năng lực HS ở trường THCS để áp dụng khả thi trên địa bàn huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý HĐQL bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khi xã hội phát triển, QL đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển các HĐ xã hội. Xã hội loài người trải qua nhiều chế độ chính trị xã hội khác nhau, mỗi chế độ khác nhau, có một phương thức sản xuất khác nhau, phương thức sản xuất sau phát triển hơn phương thức sản xuất trước, con người thế hệ sau tiến bộ và văn minh hơn thế hệ trước, nó kéo theo trình độ QL ngày càng cao làm cho năng suất lao động ngày càng tăng, xã hội ngày càng phát triển tiến bộ.
Vậy QL là một dạng lao động xã hội gắn liền và phát triển cùng với lịch sử phát triển của loài người. QL là một dạng lao động đặc biệt điều khiểu các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. - Theo yếu tố hành động: QL là quá trình điều khiển mà ở đó chủ thể QL điều khiển đối tượng QL để đạt tới mục tiêu đặt ra. - Thuật ngữ QL (từ Hán Việt) nêu rõ bản chất của hoạt động này trong thực tiễn, nó gồm hai mặt tích hợp vào khâu từ “Quản” và từ “Lý”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trong thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “Quản lý” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển. - Có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “Quản lý” có thể nêu một số quan điểm như sau: + F.Taylor (1856-1915) là cha đẻ của thuyết QL khoa học.
Ông là người tiên phong sử dụng phương pháp nghiên cứu “bấm giờ chụp ảnh”. Phương pháp nghiên cứu này dẫn đến việc phân chia công việc thành những yếu tố, thao tác nhỏ; loại trừ những thao tác không cần thiết, xác định cách tốt nhất để hoàn thành công việc; trên cơ sở đó xác định khối lượng sản phẩm phải hoàn thành trong ngày [3, Tr. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Fayol (1841-1925) tác giả của thuyết QL hành chính. Ông là người đầu tiên đã phân biệt các HĐQL thành 5 chức năng cơ bản: (i) kế hoạch hóa, (ii) tổ chức, (iii) chỉ huy, (iv) phối hợp và (v) kiểm tra mà sau này chúng được kết hợp thành 4 chức năng: Kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra [3, Tr.
+ Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất [13, Tr. + Các tác giả Nguyễn Quốc Chí-Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “HĐQL là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Một cách định nghĩa khác: “QL là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [3, Tr. “QL hướng tới 4 lĩnh vực: Công việc, quan hệ, môi trường, bản thân.
Cụ thể: QL công việc phải biết nắm và buông hợp lý. Nắm cái cần nắm, buông cái cần buông, chớ nắm cái cần buông, chớ buông cái cần nắm, trong nắm có buông, trong buông có nắm” [15, Tr. Bản chất của HĐ QL là sự tác động có mục đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu QL.