Quản lý dạy học KHTN theo định hướng phát triển năng lực THPT Lai Châu

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý dạy học KHTN theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT tỉnh Lai Châu.

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

2019

112
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊNTHEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.2. Năng lực và phát triển năng lực

1.2.3. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực

1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người học

1.3. Hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh

1.3.1. Hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông

1.3.2. Hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông

1.3.3. Hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực học sinh trung học phổ thông

1.4. Quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở trường trung học phổ thông

1.4.1. Mục tiêu quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông

1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở trường trung học phổ thông

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở trường trung học phổ thông

1.5.1. Năng lực của cán bộ quản lý

1.5.2. Năng lực giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên

1.5.3. Chất lượng tuyển sinh đầu vào và đặc điểm học sinh trung học phổ thông

1.5.4. Vai trò của các tổ chức: Đoàn Thanh niên, Công đoàn, Ban đại diện cha mẹ học sinh, tổ chuyên môn trong nhà trường

1.5.5. Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy học

1.5.6. Điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

2.1. Khái quát tình hình giáo dục ở các trường trung học phổ thông thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

2.2. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở các trường trung học phổ thông thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

2.2.1. Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.2.2. Kết quả khảo sát

2.2.3. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

2.2.3.1. Điểm mạnh
2.2.3.2. Những hạn chế
2.2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ LAI CHÂU, TỈNH LAI CHÂU

3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

3.2. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở các trường trung học phổ thông thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

3.2.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý về quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

3.2.2. Tăng cường công tác bồi dưỡng kỹ năng dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực cho giáo viên

3.2.3. Lập kế hoạch hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

3.2.4. Đổi mới sinh hoạt chuyên môn về dạy học theo định hướng phát triển năng lực theo hướng nghiên cứu bài học ở tổ tự nhiên

3.2.5. Tăng cường các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực

3.2.6. Mối quan hệ giữa các biện pháp

3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.3.1. Các bước tiến hành khảo nghiệm

3.3.2. Kết quả khảo nghiệm

3.4. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực THPT Lai Châu

Việc quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực tại các trường THPT Lai Châu là một nhiệm vụ chiến lược, phù hợp với tinh thần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo Nghị quyết 29-NQ/TW. Bối cảnh giáo dục miền núi Lai Châu đặt ra những yêu cầu đặc thù, đòi hỏi sự chuyển đổi từ mô hình dạy học truyền thống, tập trung vào truyền thụ kiến thức, sang mô hình hiện đại, lấy người học làm trung tâm. Mục tiêu cốt lõi là hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết cho học sinh, giúp các em không chỉ nắm vững kiến thức mà còn có khả năng vận dụng vào thực tiễn. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, dạy học các môn Khoa học Tự nhiên (KHTN) không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tri thức Vật lý, Hóa học, Sinh học riêng rẽ, mà còn hướng tới việc hình thành năng lực khoa học tự nhiên một cách tổng thể. Điều này bao gồm năng lực nhận thức, tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên và vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Quá trình này đòi hỏi một hệ thống biện pháp quản lý dạy học đồng bộ, từ việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường, chỉ đạo chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên KHTN, đến đổi mới kiểm tra, đánh giá. Luận văn của tác giả Ngô Mai Phúc (2019) đã chỉ ra rằng, việc quản lý hoạt động dạy học theo định hướng này là yếu tố quyết định đến việc nâng cao chất lượng dạy và học, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội hiện đại.

1.1. Tầm quan trọng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là một sự thay đổi về triết lý giáo dục, chuyển trọng tâm từ "học sinh biết gì" sang "học sinh làm được gì". Mục tiêu không chỉ là trang bị kiến thức mà còn là hình thành cho học sinh các năng lực chung (tự chủ, tự học, giao tiếp, hợp tác) và năng lực chuyên môn. Đối với các môn KHTN, điều này có nghĩa là học sinh phải có khả năng thực hiện các thí nghiệm, quan sát, giải thích hiện tượng tự nhiên và áp dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Cách tiếp cận này giúp giáo dục trở nên thiết thực hơn, gắn liền với thực tiễn và chuẩn bị tốt hơn cho học sinh hành trang bước vào đời.

1.2. Vai trò cốt lõi của chương trình giáo dục phổ thông 2018

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 là kim chỉ nam cho việc đổi mới hoạt động dạy học tại các trường THPT. Chương trình này quy định rõ các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh sau mỗi cấp học. Đối với KHTN, chương trình nhấn mạnh việc dạy học tích hợp liên môntổ chức hoạt động trải nghiệm để học sinh có thể khám phá khoa học một cách tự nhiên và hứng thú. Việc quản lý dạy học hiệu quả phải bám sát mục tiêu và yêu cầu của chương trình này, đảm bảo mọi hoạt động chuyên môn đều hướng tới việc hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học một cách bền vững.

1.3. Bối cảnh đặc thù của giáo dục miền núi Lai Châu

Lai Châu, với đặc điểm là một tỉnh miền núi, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục như điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất và chất lượng đầu vào của học sinh. Những yếu tố này đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác quản lý chuyên môn trường THPT. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội để phát triển các mô hình giáo dục sáng tạo, gắn liền với bản sắc địa phương. Việc quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực cần tính đến các yếu tố đặc thù này để xây dựng các biện pháp phù hợp, khả thi, giúp học sinh phát huy tối đa tiềm năng của mình trong bối cảnh cụ thể của địa phương.

II. Vạch rõ thách thức quản lý dạy học KHTN miền núi Lai Châu

Thực trạng quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Lai Châu vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức. Theo khảo sát của Ngô Mai Phúc (2019), một trong những khó khăn lớn nhất là nhận thức của một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên về dạy học phát triển năng lực chưa thực sự sâu sắc. Nhiều người vẫn quen với lối dạy truyền thụ một chiều, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành. Công tác quản lý chuyên môn trường THPT đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào việc hỗ trợ giáo viên đổi mới phương pháp dạy học KHTN. Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, đặc biệt là các phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động thực hành, thí nghiệm và giáo dục STEM. Một thách thức khác đến từ chính học sinh, với chất lượng đầu vào không đồng đều và thói quen học tập thụ động, ngại tư duy, khám phá. Những hạn chế này tạo thành rào cản, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu nâng cao chất lượng dạy và học theo yêu cầu của chương trình mới. Việc xác định rõ nguyên nhân của những hạn chế này là bước đầu tiên và quan trọng nhất để đề xuất các biện pháp quản lý dạy học phù hợp và hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong nhận thức và năng lực của đội ngũ giáo viên

Một bộ phận không nhỏ giáo viên vẫn chưa thay đổi tư duy, còn lúng túng khi áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Năng lực thiết kế các chủ đề dạy học tích hợp liên môn hay tổ chức các dự án học tập, hoạt động trải nghiệm còn hạn chế. Công tác bồi dưỡng giáo viên KHTN tuy đã được chú trọng nhưng hiệu quả chưa cao, nội dung bồi dưỡng đôi khi chưa sát với thực tiễn và nhu cầu của giáo viên. Điều này dẫn đến việc đổi mới chỉ dừng lại ở bề nổi, chưa thực sự đi vào chiều sâu, ảnh hưởng đến chất lượng phát triển năng lực khoa học tự nhiên cho học sinh.

2.2. Khó khăn về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học hiện đại

Dạy học phát triển năng lực, đặc biệt là trong lĩnh vực KHTN, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ đắc lực từ cơ sở vật chất và thiết bị. Các phòng thực hành, thí nghiệm, các mô hình, dụng cụ cần được trang bị đầy đủ và hiện đại. Tuy nhiên, thực tế tại nhiều trường ở Lai Châu cho thấy tình trạng thiếu thốn, xuống cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học KHTN. Việc thiếu điều kiện thực hành khiến các giờ học KHTN trở nên khô khan, nặng về lý thuyết, làm giảm hứng thú và khả năng hình thành kỹ năng thực hành, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh.

2.3. Vấn đề trong công tác kiểm tra đánh giá năng lực học sinh

Hệ thống kiểm tra, đánh giá hiện nay vẫn còn nặng về kiểm tra kiến thức ghi nhớ, tái hiện. Việc đánh giá năng lực học sinh THPT một cách toàn diện, thông qua nhiều hình thức (quan sát, sản phẩm học tập, bài thực hành, thuyết trình) chưa được áp dụng rộng rãi. Điều này tạo ra một mâu thuẫn: mục tiêu dạy học là phát triển năng lực, nhưng cách thức đánh giá lại chủ yếu là kiến thức. Sự không đồng bộ này làm giảm động lực đổi mới của cả giáo viên và học sinh, khiến quá trình chuyển đổi sang dạy học phát triển năng lực gặp nhiều trở ngại.

III. Top 5 biện pháp quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực tối ưu

Để khắc phục những hạn chế và vượt qua thách thức, việc đề xuất và triển khai các biện pháp quản lý dạy học một cách hệ thống, khoa học và khả thi là yêu cầu cấp thiết. Dựa trên cơ sở lý luận và phân tích thực trạng, nghiên cứu của Ngô Mai Phúc (2019) đã đề xuất 5 biện pháp cốt lõi nhằm nâng cao chất lượng dạy và học KHTN theo định hướng phát triển năng lực tại các trường THPT Lai Châu. Các biện pháp này tập trung vào việc tác động đồng bộ đến các yếu tố then chốt của quá trình dạy học: nhận thức của đội ngũ, năng lực chuyên môn của giáo viên, kế hoạch hóa hoạt động, đổi mới sinh hoạt chuyên môn và đảm bảo các điều kiện hỗ trợ. Mục tiêu của các giải pháp này là tạo ra một môi trường giáo dục mà ở đó, hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực không còn là khẩu hiệu mà trở thành thực tiễn trong từng giờ học. Quá trình này đòi hỏi sự quyết tâm của lãnh đạo nhà trường, sự nỗ lực của mỗi giáo viên và sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục. Việc triển khai thành công các biện pháp này sẽ là đòn bẩy quan trọng để quản lý chuyên môn trường THPT hiệu quả, đáp ứng mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018.

3.1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý và giáo viên KHTN

Đây là biện pháp tiên quyết. Cần tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn chuyên sâu để cán bộ quản lý và giáo viên hiểu đúng, hiểu sâu về bản chất của dạy học phát triển năng lực. Nội dung cần làm rõ sự khác biệt giữa dạy học tiếp cận nội dung và tiếp cận năng lực, vai trò của người thầy trong việc tổ chức, hướng dẫn thay vì truyền thụ. Khi nhận thức thay đổi, hành động sẽ thay đổi. Sự đồng thuận về nhận thức sẽ tạo ra sức mạnh tập thể, thúc đẩy quá trình đổi mới diễn ra thuận lợi và đồng bộ trong toàn trường.

3.2. Tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên KHTN hiệu quả

Công tác bồi dưỡng giáo viên KHTN cần được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Thay vì các buổi tập huấn lý thuyết chung chung, cần tập trung vào bồi dưỡng các kỹ năng cụ thể như: thiết kế kế hoạch bài dạy theo chuỗi hoạt động học, kỹ thuật đặt câu hỏi gợi mở, phương pháp tổ chức giáo dục STEM, và kỹ năng xây dựng công cụ đánh giá năng lực học sinh THPT. Hình thức bồi dưỡng nên đa dạng, kết hợp giữa tập huấn tập trung, tự bồi dưỡng và đặc biệt là sinh hoạt chuyên môn tại tổ, nhóm.

3.3. Xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường một cách khoa học

Kế hoạch giáo dục nhà trường là văn bản định hướng cho mọi hoạt động chuyên môn. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cần đảm bảo tính khoa học, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của trường và đặc điểm học sinh. Kế hoạch phải cụ thể hóa mục tiêu của chương trình tổng thể, phân bổ hợp lý thời lượng cho các chủ đề, các hoạt động trải nghiệm, và các hoạt động kiểm tra, đánh giá. Đây là công cụ quan trọng để hiệu trưởng thực hiện chức năng quản lý chuyên môn trường THPT một cách hiệu quả.

IV. Hướng dẫn đổi mới PPDH KHTN theo định hướng phát triển năng lực

Song song với các biện pháp quản lý vĩ mô, việc chỉ đạo trực tiếp đổi mới phương pháp dạy học KHTN là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất đến chất lượng giờ học. Việc quản lý không chỉ dừng ở việc kiểm tra giáo án hay dự giờ theo lối cũ, mà phải chuyển sang tư vấn, hỗ trợ, và thúc đẩy giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Trọng tâm của đổi mới PPDH là chuyển hoạt động học của học sinh từ thụ động sang chủ động, sáng tạo. Các phương pháp như dạy học dự án, dạy học giải quyết vấn đề, giáo dục STEM hay phương pháp "Bàn tay nặn bột" cần được khuyến khích áp dụng. Đặc biệt, việc đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là một giải pháp đột phá. Thông qua hoạt động này, giáo viên có cơ hội cùng nhau thiết kế bài dạy, dự giờ, phân tích và rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn một cách bền vững. Quá trình này giúp hình thành một cộng đồng học tập chuyên nghiệp trong nhà trường, nơi mọi người cùng chia sẻ và phát triển, hướng tới mục tiêu chung là phát triển năng lực khoa học tự nhiên cho học sinh.

4.1. Đẩy mạnh sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học

Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hình thức phát triển chuyên môn tại chỗ hiệu quả nhất. Thay vì chỉ nhận xét, đánh giá giờ dạy, giáo viên sẽ cùng nhau tập trung phân tích hoạt động học của học sinh: các em gặp khó khăn ở đâu, ý tưởng nào được nảy sinh, kết quả học tập thay đổi thế nào. Cách tiếp cận này giúp giáo viên thấu hiểu sâu sắc quá trình học của học sinh, từ đó có những điều chỉnh PPDH phù hợp. Đây là một công cụ quản lý chuyên môn hiệu quả, thúc đẩy sự hợp tác và tự chủ của giáo viên.

4.2. Khuyến khích dạy học tích hợp liên môn và giáo dục STEM

Kiến thức trong thực tế không tồn tại riêng lẻ. Do đó, dạy học tích hợp liên môngiáo dục STEM là xu thế tất yếu. Việc quản lý cần tạo cơ chế khuyến khích giáo viên các bộ môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, và cả Công nghệ, Tin học cùng nhau xây dựng các chủ đề dạy học chung. Các dự án STEM như "Hệ thống lọc nước mini", "Tên lửa nước"... không chỉ giúp học sinh vận dụng kiến thức tổng hợp để giải quyết vấn đề thực tiễn mà còn phát triển tư duy sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm và năng lực giao tiếp.

4.3. Tăng cường tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Học đi đôi với hành. Việc tổ chức hoạt động trải nghiệm đưa học sinh ra khỏi không gian lớp học truyền thống, đến với các phòng thí nghiệm, vườn trường, các cơ sở sản xuất hay các chuyến đi thực địa. Những hoạt động này giúp kiến thức khoa học trở nên sống động, gần gũi. Học sinh được trực tiếp quan sát, thực hành, từ đó khắc sâu kiến thức và hình thành các kỹ năng quan trọng. Nhà trường cần xây dựng kế hoạch cụ thể cho các hoạt động này, đảm bảo an toàn và tính giáo dục, xem đây là một phần không thể thiếu của quá trình phát triển năng lực khoa học tự nhiên.

V. Thực tiễn áp dụng và đánh giá năng lực học sinh THPT Lai Châu

Việc áp dụng các biện pháp quản lý dạy học và đổi mới phương pháp giảng dạy cần được đo lường hiệu quả thông qua một hệ thống kiểm tra, đánh giá tin cậy. Quá trình đánh giá năng lực học sinh THPT phải được thay đổi về căn bản, chuyển từ đánh giá tổng kết sang chú trọng đánh giá quá trình; từ việc chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ sang đánh giá khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống phức hợp. Cán bộ quản lý cần chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng ngân hàng câu hỏi, bài tập theo các mức độ nhận thức và năng lực. Các hình thức đánh giá cần đa dạng hóa, bao gồm: bài kiểm tra viết (kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận), bài thực hành thí nghiệm, báo cáo dự án học tập, đánh giá qua sản phẩm, hồ sơ học tập (portfolio) và đánh giá đồng đẳng (học sinh đánh giá lẫn nhau). Theo nghiên cứu, việc khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất tại các trường THPT thành phố Lai Châu cho thấy sự đồng thuận và đánh giá cao từ đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên. Điều này khẳng định rằng, các giải pháp đưa ra không chỉ đúng đắn về mặt lý luận mà còn phù hợp với thực tiễn giáo dục miền núi Lai Châu, hứa hẹn mang lại sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.

5.1. Xây dựng công cụ đánh giá năng lực học sinh một cách toàn diện

Để đánh giá năng lực học sinh THPT chính xác, cần xây dựng các bộ công cụ đa dạng. Các ma trận đề kiểm tra cần được thiết kế bám sát chuẩn đầu ra của chương trình, bao quát các thành phần của năng lực khoa học tự nhiên (nhận thức, tìm tòi, vận dụng). Bên cạnh đó, các phiếu quan sát, bảng kiểm (checklist), thang đo (rubric) cần được sử dụng để đánh giá các kỹ năng quá trình như kỹ năng thực hành, kỹ năng hợp tác, kỹ năng thuyết trình. Sự đa dạng trong công cụ đánh giá đảm bảo kết quả phản ánh trung thực và toàn diện năng lực của học sinh.

5.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất

Kết quả khảo nghiệm được trình bày trong luận văn của Ngô Mai Phúc (2019) cho thấy các biện pháp như "Nâng cao nhận thức cho CBQL, GV", "Đổi mới sinh hoạt chuyên môn", và "Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng dạy học" đều được đánh giá có tính cần thiết và tính khả thi ở mức cao (điểm trung bình > 2.5/3.0). Điều này chứng tỏ sự phù hợp của các giải pháp với bối cảnh thực tế và là cơ sở vững chắc để các trường THPT tại Lai Châu tự tin triển khai, tạo ra sự đột phá trong công tác quản lý dạy học KHTN phát triển năng lực.

22/09/2025
Quản lý hoạt động dạy học các môn khoa học tự nhiên theo định hướng phát triển năng lực ở các trường trung học phổ thông thành phố lai châu tỉnh lai châu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊNTHEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học Ngay từ thời cổ đại, tư tưởng về dạy học và quản lý dạy học đã được thể hiện trong những quan điểm của nhiều nhà triết học đồng thời là nhà giáo dục. Cômenxki (1592-1670), cốt lõi của quá trình đào tạo là không “áp đặt”, không “cưỡng bức” người học.

Công việc của người thầy giáo là tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, gợi mở, dẫn dắt hoạt động của người học. Bằng cách ấy, HS sẽ tích cực, tự giác trong việc lĩnh hội các tri thức. Ông khẳng định: “Thầy dạy ít hơn, nhưng học sinh học được nhiều hơn… để trong trường học không có tiếng kêu la, không có cảm giác sợ và sự lao động bỏ ra một cách vô ích mà chỉ có niềm vui và sự hi vọng đầy thành tích…”. Quan điểm này của J.

Cômenxki cho thấy: Ông luôn nhấn mạnh đặc biệt tới tầm quan trọng của PPDH tích cực. GV lên lớp không phải cứ nói thao thao bất tuyệt, truyền thụ càng nhiều nguồn tri thức cho HS là càng tốt mà quan trọng là người học có tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú với bài học không [19]. Từ những năm gần giữa thế kỉ XX, John Dewey (1859-1952) - nhà giáo dục nhà triết học, tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ đề ra tư tưởng: dạy học là giao việc cho học sinh “làm” chứ không phải giao vấn đề cho học sinh “học”; còn Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944) - nhà cải cách giáo dục nổi tiếng của Nhật Bản cũng cho rằng: truyền đạt tri thức - không phải và không bao giờ là mục đích của giáo dục. Mục đích của giáo dục là hướng dẫn quá trình học tập và đặt trách nhiệm học tập vào trong tay mỗi học sinh.

Giáo dục được xem như là quá trình giáo viên hướng dẫn học sinh hoạt động nhận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn thức để “tự phát triển”. Vì thế, một trong những mối quan tâm hàng đầu của ông là đào tạo những giáo viên có thể làm những người hướng dẫn có hiệu quả cho học sinh khi học tập chứ không phải là những người truyền thụ "những mảnh tri thức chết". Ông cảnh báo: "người thầy phải thôi nhồi nhét tri thức cho học sinh và phải hướng dẫn họ tự nỗ lực khai tâm cho mình". Người thầy phải tự quyết định xem mình có phải là người chuyên tổ chức việc truyền đạt tri thức hay là người thức tỉnh mỗi sự quan tâm và sự tò mò của bản thân học sinh.

Người thầy quyết định như thế nào về vấn đề này - Tsunesaburo Makiguchi quả quyết - đó sẽ là "tác nhân quan trọng nhất" trong cải cách giáo dục, và hơn thế nữa, trong công cuộc thay đổi toàn bộ quan niệm và phương pháp giáo dục [42]. Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến Quản lý HĐDH, PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề quản lý HĐDH, PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn Như Cương, Tôn Thân. Về quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc, Trần Kiểm, Trần Kiều, Trần Bá Hoành,.

luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW 4 khoá VIII về GD- ĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin khoa học và công nghệ, những tư tưởng trên không những vẫn giữ nguyên giá trị của nó mà còn được tiếp tục kế thừa và phát triển.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực Vấn đề DH theo hướng phát triển năng lực người học được quan tâm và phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XX. Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nước XHCN có nhiều công trình nghiên cứu năng lực nghề nghiệp cho người học trong việc tổ chức HĐDH trong các nhà trường. Trong tác phẩm “Lý luận DH của nhà trường phổ thông trung học” năm 1982 của tác giả M.Okon đã nêu một số nét đặc trưng của của hoạt động sáng tạo phát triển năng lực: khả năng tư duy độc lập, chuyển kiến thức vào các tình huống mới để vận dụng giải quyết; xây dựng được cách giải quyết mới khác với cách giải đã biết và không phải là tổ hợp các cách giải đã biết [21].

Trong tác phẩm “Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”, Xavier Roegiers cho rằng: ngoài khía cạnh kiến thức đơn thuần, nhà trường trước hết phải tập trung cố gắng dạy cho HS sử dụng kiến thức của mình vào các tình huống có ý nghĩa đối với HS, hay nói cách khác nhà trường cần phát triển những năng lực ở HS [40]. Các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI phát triển nhiều công trình nghiên cứu về tư duy sáng tạo trong HS THPT như triển khai các cuộc thi nghiên cứu khoa học kỹ thuật, thi sáng tạo Robot… Ở Châu Á-Thái Bình Dương, vấn đề phát triển năng lực người học gắn với các hoạt động trải nghiệm thực tiễn được nhiều quốc gia quan tâm và đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu. Điển hình như tiến sĩ giáo dục học Raija (người Ấn Độ) trong cuốn: “Nền GD cho thế kỷ XXI, những triển vọng của Châu Á Thái Bình Dương” đã khẳng định trong tổ chức DH phải xác định những giá trị và kỹ năng mong muốn mà mục đích của quá trình truyền đạt tri thức cần phát triển. HS phải rèn cho HS năng lực phán đoán, suy luận, giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác làm việc, làm việc trong một tổ chức, có sáng kiến.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Ở nước ta, ngay những ngày đầu của nền giáo dục cách mạng Việt Nam, trong thư gửi cho HS nhân ngày khai trường, Bác Hồ đã viết: “…từ giờ phút này trở đi, các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam (…) một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em…’’. Nội dung bức thư như là một định hướng cho sự phát triển của PPDH. Trong những năm gần đây, đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới PPDH nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lí học đã đi sâu nghiên cứu vấn đề đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống, vấn đề lấy HS làm trung tâm trong HĐDH. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc Bảo là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từ những mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

Các tác giả như: Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt… cũng có các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nói chung và dạy học theo hướng phát huy năng lực người học. Nhìn chung vấn đề quản lý HĐDH theo định hướng phát triển năng lực chủ yếu được nghiên cứu dưới dạng các chuyên đề, các hội thảo và hướng dẫn. Có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu dạy học theo hướng tiếp cận năng lực áp dụng cho các môn học cụ thể như Toán, Ngữ văn, hoặc áp dụng cho các đơn vị cụ thể như Trung tâm Giáo dục thường xuyên hoặc ở một địa phương nào đó. Một số nghiên cứu trong các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục, Thạc sĩ giáo dục học cũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn, quản lý HĐDH trong các nhà trường phổ thông, các địa phương cụ thể.

Những đề tài này đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn nêu ra được cơ sở lý luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở một số cơ sở giáo dục áp dụng cho cơ sở đó và những kinh nghiệm quý báu. Tuy nhiên ở một cơ sở giáo dục cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể, ngoài những điểm chung còn mang tính đặc thù nên cần phải có những biện pháp cụ thể, riêng và áp dụng các biện pháp một cách linh hoạt, hài hoà thì việc quản lý hoạt động dạy học mới có thể thu được hiệu quả cao. Tại các trường THPT thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu chưa có công trình nghiên cứu về quản lý HĐDH các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.

Quản lý giáo dục 1. Quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý, khái niệm quản lý đó được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau. Frederik Taylor (1856 - 1915), được coi là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là:“Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý chặt chẽ”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ