phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng. Cở sở lý luận quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ. Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ tƣ nhân trên địa àn tỉnh Quảng Nam. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ tƣ nhân trên địa àn tỉnh Quảng Nam.
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẦU TƢ 1. Đầu tƣ và đầu tƣ tƣ nh n a) Khái niệm Từ tổng quan các tài liệu cho thấy đầu tƣ đƣợc coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đ đƣợc nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nƣớc phân biệt giữa đầu tƣ tƣ nhân và đầu tƣ công, theo đó đầu tƣ công thƣờng đƣợc cho là đầu tƣ cho ết cấu hạ tầng.
Việc phân biệt nhƣ vậy rất có ý nghĩa vì đầu tƣ cho ết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn đƣợc sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng nhƣ các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hƣởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà hông mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó đƣợc cung cấp cho ngƣời sử dụng thêm đó, nên ết cấu hạ tầng có thể coi nhƣ cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những ngƣời sử dụng. Ở nhiều quốc gia, một số hoạt động sản xuất là do các doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện.
Tại các nƣớc phát triển, đầu tƣ của doanh nghiệp nhà nƣớc lại có xu hƣớng đƣợc giới hạn trong một số ngành và tỷ trọng các hoạt động do các doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện đ giảm đi đáng ể. Kinh tế học định nghĩa đầu tƣ là việc đầu tƣ để tạo năng lực sản xuất tạo ra hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho thị trƣờng (Vũ Chí Lộc (2012), Giáo trình Đầu tƣ quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội). Hiểu theo định nghĩa của đầu tư: “Đầu tư tư nhân” là việc sử dụng nguồn vốn của nhà đầu tư tư nhân để duy trì và mở rộng một bộ phận tài sản 11 sản xuất của nền kinh tế thông qua các chương trình, dự án nhằm sản xuất hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu thị trường với mục đích kinh doanh. b) Các hình thức đầu tư Đây là hình thức mà nhà đầu tƣ có quyền tự do lựa chọn phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của mình, hi thực hiện hoạt động đầu tƣ.
Việc lựa chọn hình thức đầu tƣ đóng vai trò rất quan trọng đối với việc mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tƣ. Chính vì vậy, việc nắm rõ các quy định pháp luật về đặc điểm và điều iện của từng hình thức đầu tƣ trƣớc hi tiến hành hoạt động đầu tƣ là việc rất cần thiết (Vũ Chí Lộc (2012), Giáo trình Đầu tƣ quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội). Với các quy định về hoạt động đầu tƣ nhƣ trên, pháp luật hiện hành Việt Nam ghi nhận ốn loại hình thức đầu tƣ tại Việt Nam nhƣ sau: Thành lập tổ chức inh tế; Theo quy định của Luật Đầu tƣ năm 2014, Luật Đầu tƣ năm 2020, nhà đầu tƣ đƣợc phép thành lập tổ chức inh tế để thực hiện các hoạt động đầu tƣ. Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào các tổ chức inh tế; Nhà đầu tƣ tƣ nhân đầu tƣ ng hình thức đầu tƣ thông qua góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức inh tế phải thực hiện theo các quy định về hình thức, điều iện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức inh tế của Luật Đầu tƣ.
Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng đối tác công tƣ (PPP): Khi thực hiện đầu tƣ theo hình thức đầu tƣ này, nhà đầu tƣ, doanh nghiệp dự án đƣợc ý ết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tƣ xây dựng mới hay cải tạo, mở rộng, nâng cấp, quản lý và vận hành công trình ết cấu hạ tầng hay cung cấp dịch vụ công. Đầu tƣ theo hình thức hợp đồng hợp tác inh doanh: Đây là hình thức đầu tƣ giữa các nhà đầu tƣ nh m hợp tác inh doanh và phân chia sản 12 phẩm, phân chia lợi nhuận mà hông thành lập tổ chức inh tế. Khái niệm quản nhà nƣớc đối với đầu tƣ tƣ nh n Theo Phan Huy Đƣờng (2017), Quản lý nhà nƣớc về kinh tế, NX Đại học Quốc gia Hà Hội: Quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý và khách thể quản lý nh m sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt đƣợc các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Vì thế nói đến quản lý là phải nói đến cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý nhƣ chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội.
QLNN là một dạng quản lý do nhà nƣớc làm chủ thể định hƣớng điều hành, chi phối, v. để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. Nhƣ vậy, từ khái niệm về QLNN nói trên, chúng ta có thể hiểu QLNN đối với ĐTTN là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các doanh nghiệp tư nhân và hoạt động thu hút ĐTTN nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật. Công tác QLNN đã tạo ra một trật tự nhất định và sự ổn định cho các đối tượng mà nó quản lý, trong đó có các doanh nghiệp tư nhân, đưa các đối tượng đó vào một quy luật vận động chung dưới sự kiểm soát của pháp luật và các cơ quan có thẩm quyền để đảm bảo cho các hoạt động này diễn ra theo đúng quy định của pháp luật về đầu tư, hoạt động của doanh nghiệp và phù hợp với định hướng chung trong phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Vai trò của quản nhà nƣớc đối với đầu tƣ tƣ nh n Quản lý nhà nƣớc đối với đầu tƣ tƣ nhân có vai trò rất quan trọng, cụ thể: a) Ổn định chính trị tạo thuận lợi cho sự vận động của nguồn vốn đầu tư Sự ổn định chính trị - x hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng có hiệu quả vốn đầu tƣ. Tình hình chính trị hông ổn định, đặc iệt là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và 13 phƣơng thức thực hiện mục tiêu cũng thay đổi. Hậu quả là lợi ích của các nhà đầu tƣ tƣ nhân ị giảm (họ phải gánh chịu một phần hay toàn ộ các thiệt hại đó) nên lòng tin của các nhà đầu tƣ ị giảm sút. Mặc hác, hi tình hình chính trị - x hội hông ổn định, Nhà nƣớc hông đủ hả năng iểm soát hoạt động của các nhà đầu tƣ, hậu quả là các nhà đầu tƣ hoạt động theo mục đích riêng, hông theo định hƣớng chiến lƣợc phát triển KT-XH của nƣớc nhận đầu tƣ.
Do đó hiệu quả sử dụng vốn ĐTTN rất thấp. Hoạt động đầu tƣ tƣ nhân đƣợc nhà nƣớc hỗ trợ dƣới nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động này hơn nữa còn tạo đƣợc sự đảm ảo, hỗ trợ, tạo điều iện thuận lợi của các tổ chức inh tế và tổ chức quốc tế. Nhà nƣớc có vai trò quyết định trong việc lựa chọn, thực thi chính sách inh tế và chƣơng trình đối ngoại theo hƣớng mở rộng các quan hệ song phƣơng và đa phƣơng với các nƣớc và các tổ chức quốc tế cũng nhƣ đảm ảo uy tín của các quốc gia trong cộng đồng quốc tế.
Quan hệ đối ngoại của nhà nƣớc nhƣ chiếc chìa hoá mở cửa cho nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tìm iếm cơ hội để đầu tƣ cũng nhƣ để đảm ảo an toàn và hỗ trợ cho hoạt động đầu tƣ của họ. Sự ổn định của nền inh tế vĩ mô là điều iện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tƣ. Điều này đặc iệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn ĐTTN. Để thu hút đƣợc ĐTTN, nền inh tế địa phƣơng phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tƣ, và là nơi có hả năng sinh lợi cao hơn các nơi hác.
Sự an toàn đòi hỏi môi trƣờng vĩ mô ổn định, hơn nữa phải giữ đƣợc môi trƣờng inh tế vĩ mô ổn định thì mới có điều iện sử dụng tốt ĐTTN. Mức độ ổn định inh tế vĩ mô đƣợc đánh giá thông qua tiêu chí: chống lạm phát và ổn định tiền tệ. Tiêu chí này đƣợc thực hiện thông qua các công cụ của chính sách tài chính tiền tệ nhƣ l i suất, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ dự trữ ắt uộc, các công cụ thị trƣờng mở đồng thời phải iểm soát đƣợc mức thâm hụt ngân sách hoặc giữ cho ngân sách cân ng. 14 b) Tạo lập môi trường pháp lý cho việc thu hút đầu tư tư nhân vào nền kinh tế Môi trƣờng pháp luật là bộ phận không thể thiếu đối với hoạt động ĐTTN.
Một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu là một trong những yếu tố tạo nên môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, định hƣớng và hỗ trợ cho các nhà đầu tƣ tƣ nhân. Vấn đề mà các nhà đầu tƣ quan tâm là: - Môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh, quyền sở hữu tài sản tƣ nhân đƣợc pháp luật bảo đảm. - Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hƣởng lợi nhuận đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nƣớc ngoài. - Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất.
Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và tỷ suất lợi nhuận. Nếu các quy định pháp lý bảo đảm an toàn về vốn của nhà đầu tƣ không bị quốc hữu hóa khi hoạt động đầu tƣ hông phƣơng hại đến an ninh quốc gia, bảo đảm mức lợi nhuận cao, việc di chuyển lợi nhuận thuận tiện thì khả năng thu hút ĐTTN càng cao. Do vậy, hệ thống pháp luật phải thể hiện đƣợc nội dung cơ ản của nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền, ình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ quốc tế.