phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng với tên gọi nhƣ sau: Chƣơng 1. Đất phi nông nghiệp và quản lý nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng công tác quản lý đất phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đất phi nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Để thực hiện luận văn này tác giả đã tham khảo nhiều công trình nghên cứu, sách, báo, tài liệu cụ thể trên mƣời chín tài liệu đƣợc công bố bởi các tác giả trong và ngoài nƣớc có nội dung liên quan trong đó tiêu biểu là: - Tạ Phúc Sơn (2016), “Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong công tác Quản lý Đất đai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”. Bài báo khẳng định, lĩnh vực Quản lý Đất đai là một trong những chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc của Sở Tài nguyên và Môi trƣờng. Bài báo đã chỉ ra các nội dung cơ bản của quản lý Nhà nƣớc trong lĩnh vực đất đai mà các tỉnh phải thực hiện đó là: (1) Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (2) Công tác ban hành văn bản phổ biến pháp luật về đất đai; (3) Công tác đo đạc, cấp Giấy chứng nhận QSD đất; (4) Công tác thu hồi và giao đất; (5) Công tác tài chính về đất đai và giá đất; (6) Công tác bồi thƣờng, hỗ trợ và tái định cƣ: (7) Công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực đất đai. Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ còn một số hạn chế nhƣ sau: Công tác quản lý đất đai ở một số nơi còn chƣa chặt chẽ, còn xảy ra tình 5 trạng lấn chiếm, tranh chấp đất đai, đất để hoang hoá hoặc sử dụng không hiệu quả; Công tác quy hoạch sử dụng đất còn nhiều tồn tại, chất lƣợng quy hoạch chƣa cao; Cơ chế quản lý tài chính về đất đai chƣa thực sự có hiệu quả, nguồn thu ngân sách từ đất đai chƣa tƣơng xứng với tiềm năng đất đai của tỉnh; chƣa khai thác triệt để lợi thế của đất đai theo hƣớng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất để tăng nguồn thu từ đất; Việc kiểm tra giám sát cấp huyện, xã thực hiện công tác quản lý Nhà nƣớc về đất đai theo quy định Luật Đất đai năm 2013 còn hạn chế.
- Trần Thế Anh (2016), “Nhìn lại kết quả trong công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai”. Tạp chí Tài chính. Bài báo đã đánh giá một cách toàn diện công tác quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực đất đai trên các góc độ: (1) Về việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai; (2) Về việc rà soát, lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020; (3) Về công tác thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ; (4) Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (5) Về công tác kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. Bài báo cho biết, tính đến nay cả nƣớc đã cấp giấy chứng nhận sử dụng đất cho trên 94,9% tổng diện tích các loại đất cần cấp.
Việc thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất tùy tiện, làm ảnh hƣởng đến quyền lợi của ngƣời sử dụng đất. Việc xây dựng bảng giá đất 5 năm đã đƣợc thực hiện theo đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật. Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai đã giảm: năm 2015 có 1.813 vụ việc (chiếm 94% số vụ việc) liên quan đến lĩnh vực đất đai, trong đó có 1.214 vụ việc khiếu nại liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai, chủ yếu là thu hồi, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ, cƣỡng chế thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, hầu hết các vụ việc khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính đƣợc thực hiện theo chính sách, pháp luật đất đai trƣớc thời điểm Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực.
6 - Bộ TNMT (2015), “Báo cáo công tác quản lý nhà nước về đất đai năm 2014, 6 tháng đầu năm 2016 và tình hình triển khai thi hành Luật Đất đai và những vấn đề cần tháo gỡ”. Báo cáo đã đánh giá toàn diện tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai, trong đó có đất phi nông nghiệp. Báo cáo cũng đã chỉ ra một số nhƣợc điểm, hạn chế trong công tác quản lý đất đai trong đó nhấn mạnh công tác thông tin về đất đai, công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch, đặc biệt là công tác đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án tại các địa phƣơng, trong đó có Quảng Bình. Việc ban hành chính sách giá chƣa thật sự sát với thị trƣờng, công tác thống kê đất đai bất cập… đang đƣợc xem là nguyên nhân chính dẫn đến sai phạm trong công tác quản lý nhà nƣớc về đát đai hiện nay, là tác nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện của ngƣời dân.
- Nguyễn Thị Minh Tâm (2010), “Đánh giá thực trạng công tác thu hồi, bồi thường giải tỏa, giải phóng mặt bằng của một số dự án trên địa bàn thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”. Luận văn Cao học ngành Quản lý đất đai, Trƣờng Đại học NN Hà Nội. Báo cáo đã làm rõ một số vấn đề lý luận về đất đai, quản lý nhà nƣớc về đất đai, vấn đề thu hồi đất và đến bù giải tỏa; những vấn đề về cơ chế, vƣớng mắc thƣờng mắc phải khi xác định đền bù giải tỏa; một số kinh nghiệm trong công tác đền bù giải tỏa của một số địa phƣơng trong đó có Đà Nẵng. Luận văn cũng đã đi vào làm rõ thực trạng công tác đến bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng ở 12 dự án của TX Từ Sơn; đã chỉ ra dƣợc một số tồn tại hạn chế cả về chính sách lẫn thực thi chính sách và đề xuất một số hƣớng khắc phục.
- Đoàn Minh Hà (2017), “Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi ở TP. Hồ Chí Minh và định hướng hoàn thiện”. Tạp chí Dân chủ & Pháp luật. Bài báo khẳng định, thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nƣớc đối với đất đai.
Nghiên cứu đã chỉ ra một số tồn tại, vƣớng mắc từ thực tiễn bồi thƣờng, 7 hỗ trợ, tái định cƣ ở TP. Hồ Chí Minh đó là: (1) Tình trạng thiếu nhà ở, đất ở tái định cƣ hoặc thiếu nguồn vốn dành cho việc xây dựng các khu tái định cƣ bảo đảm chất lƣợng; (2) Giá đất bồi thƣờng khi thu hồi đất ở cho ngƣời bị thu hồi đất thấp hơn giá thị trƣờng; (3) Công tác bồi thƣờng kéo dài, có dự án kéo dài gây khó khăn trong việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân; (4) Việc xử lý đối với các dự án treo chƣa hiệu quả. Để khắc phục các hạn chế trên, tác giả chủ trƣơng: (1) đảm bảo chính sách, pháp luật về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ phải đồng bộ, thống nhất, khách quan ; (2) bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ cần xem xét bồi thƣờng với tƣ cách là tƣ liệu sản xuất; (3) Tuân thủ nguyên tắc “Phƣơng án bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ đƣợc phê duyệt khi đạt đƣợc ít nhất 70% ý kiến đồng ý của những ngƣời tham gia ý kiến từ cộng đồng dân cƣ địa phƣơng”; (4) Phải đảm bảo hài hòa hóa lợi ích giữa Nhà nƣớc, nhà đầu tƣ và ngƣời dân. Tóm lại, qua nghiên cứu một số công trình đã đƣợc công bố có chủ để liên quan đến đề tài luận văn, tác giả nhận thấy tất cả đều thừa nhận vai trò quan trọng của công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai, trong đó đặc biệt là công tác quản lý đền bù giải tỏa, giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất.
Các nghiên cứu cũng đã làm rõ về khái niệm, nội hàm của quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực đất đai bao gồm các nội dung nhƣ (1) đánh giá hiện trạng, xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (2) cấp đất, giao đất, cho thuê đất; (3) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; (4) thu hồi đất, đền bù giải tỏa; (5) giám sát việc thực hiện việc sử dụng đất đai; (6) thanh kiểm tra và xử lý sai phạm trong lĩnh vực đất đai. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra những bất cập và đề xuất nhiều giải pháp hợp lý để tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về đất đai tại một số địa phƣơng trong cả nƣớc. Tuy nhiên, đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu nào chuyên sâu về quản lý đối với đất phi nông nghiệp ở tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, đây là chủ đề mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu trên cơ sở thừa hƣởng những kết quả của những ngƣời đi trƣớc và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Quảng Bình.
8 CHƢƠNG 1 ĐẤ ẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤ 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm đất phi nông nghiệp Để hiểu về khái niệm đất phi nông nghiệp, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm đất đai. Theo cách hiểu đơn giản nhất, đất đai là khoảng không gian trên bề mặt trái đất đƣợc con ngƣời sử dụng cho các mục đích khác nhau, và thƣờng đƣợc chia ra thành đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp.
Đất nông nghiệp theo nghĩa rộng là mặt đất đƣợc sử dụng cho các hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), đất lâm nghiệp, đất mặt nƣớc sử dụng cho nuôi trồng thủy sản, làm muối… Đất phi nông nghiệp là đất còn lại ngoài đất sản xuất nông nghiệp.