phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài đƣợc trình bày trong 3 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý Nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý Nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum - Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Kon Tum, Tỉnh Kon Tum 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP 1. K á n ệm và đặ đ ểm ủ đất p nôn n ệp Theo Luật đất đai 2013, Đất phi nông nghiệp là loại đất không sử dụng với mục đích làm nông nghiệp như: đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; Các loại đất PNN bao gồm: Đất ở; Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp; Đất quốc phòng, an ninh; Đất sản xuất, kinh doanh; Đất xây dựng công trình công cộng; Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; Đất sông ngòi kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; Đất phi nông nghiệp khác. Từ khái niệm trên, Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nƣớc, là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Nhóm đất PNN đƣợc quy định tại Khoản 2, Điều 10, Luật Đất đai năm 2013 bao gồm 09 loại, cụ thể nhƣ sau: (Quốc hội, 2013) a. Đất ở - Đất ở tại nông thôn. -Đất ở tại đô thị: 11 b. Đất khu công nghiệp c.
Đất phi nông nghiệp khác gồm: - Đất xây dựng trụ sở cơ quan; - Đất sử dụng vào mục đích Quốc phòng, An ninh; - Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; - Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thƣơng mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; - Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (gồm cảng hàng không, sân bay, cảng đƣờng thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đƣờng sắt, hệ thống đƣờng bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lƣợng; đất công trình bƣu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; - Đất cơ sở tôn giáo, tín ngƣỡng; - Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; - Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nƣớc chuyên dùng; - Đất phi nông nghiệp làm nhà nghỉ, lán, trại cho ngƣời lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của ngƣời sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở. Nhƣ vậy, có thể thấy đất phi nông nghiệp có những đặc điểm nhƣ sau: - Rất đa dạng nhiều loại khác nhau, nhiều mục đích khác nhau 12 - Thay đổi, biến động rất nhanh về giá trị và về tự nhiên - Loại đất phi nông nghiệp liên quan đến quy hoạch của Nhà nƣớc - Dễ dàng trong việc thay đổi mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp 1.2 K á n ệm quản lý n à nƣớ về đất p nôn n ệp Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống nên việc quản lý đất đai đóng vai trò vô cùng quan trọng. Có thể thấy, QLNN về đất đai là quá trình bao gồm một một hệ thống các hoạt động thống nhất, mang tính phối hợp giữa các cơ quan QLNN có thẩm quyền trong việc kiểm soát, bảo vệ nguồn tài nguyên đất, khuyến khích ngƣời sử dụng đất hiệu quả, tạo điều kiện cho thị trƣờng bất động sản hoạt động minh bạch, tạo cơ chế thể chế hóa hợp lý và bảo hộ quyền của chủ sở hữu đất. Quản lý Nhà nƣớc về đất đai bao gồm hai lĩnh vực chính: Một là: quản lý đất với tƣ cách lãnh thổ, tài nguyên quốc gia.
Để làm đƣợc điều này, chính phủ phải phân định đƣợc đƣờng biên giới với nƣớc láng giềng, vẽ bản đồ lãnh thổ (bản đồ phân định địa giới hành chính; bản đồ phân định loại đất; bản đồ tài nguyên khoáng sản trong lòng đất.), quy hoạch không gian lãnh thổ, xây dựng các kế hoạch sử dụng, cải tạo đất khi cần thiết, thu thập, lƣu giữ thông tin về đất. Hai là: đề ra các nguyên tắc, quy định các thủ tục hành chính liên quan đến sở hữu, sử dụng, cải tạo, giao dịch đất đai nhằm duy trì sự ổn định của các quan hệ đất đai, khuyến khích sử dụng đất hiệu quả và phát triển thị trƣờng bất động sản một cách lành mạnh [5]. Quản lý Nhà nƣớc đối với đất đai là tất yếu khách quan ở tất cả các nƣớc do tính chất đặc thù của đất đai không phải chỉ là tài sản của một chủ thể kinh tế nào đó, mà còn là lãnh thổ, trên đó hiện hiện chủ quyền quốc gia, là môi trƣờng sống chung của cộng đồng dân cƣ, là thành quả đấu tranh bảo vệ Tổ 13 quốc của nhiều thế hệ công dân. Từ khái niệm quản lý Nhà nƣớc về đất đai, ta có quản lý Nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơquan Nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nƣớc về đất đai; đo là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất;trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất [23].
Các n uyên tắ quản lý N à nƣớ về đất p nôn n ệp Quản lý nhà nƣớc về đất đai nói chung và quản lý Nhà nƣớc về đất phi nông nghiệp nói riêng phải đảm bảo tuân thủ theo nguyên tắc chủ đạo đó là “nhà nƣớc thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nƣớc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, khai thác hợp lý”[18]. Cụ thể nhƣ sau: - Nguyên tắc thống nhất quản lý: Đất đai là sở hữu của toàn dân, do Nhà nƣớc thống nhất quản lý, chính quyền thực hiện quyền đại diện sở hữu và quản lý Nhà nƣớc về đất đai trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
Quản lý nhà nƣớc về đất đai của chính quyền nhằm thực hiện việc nhà nƣớc giao đất, cho thuế đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nƣớc tạo điều kiện cho ngƣời sử dụng đất có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai. Có nhƣ vậy, ngƣời dân mới yên tâm sử dụng, chủ động đầu tƣ lao động, vật tƣ, tiền vốn vào việc bảo vệ, cải tạo cho đất; khai hoang, phục hóa, đƣa diện tích đất trồng, đồi trọc, đất có mặt nƣớc hoang hóa vào sử dụng và phát triển cơ sở hạ tầng để tăng giá trị đất. - Nguyên tắc phân cấp gắn liền với các điều kiện bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ: Cơ quan chính quyền địa phƣơng và trung ƣơng (cấp TP, tỉnh) chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ và cơ quan chính quyền cùng cấp (UBND Huyện, tỉnh) trong quản lý Nhà nƣớc về đất đai.
Chính quyền cấp tỉnh thực hiện giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất của các cá nhân, tổ chức; có trách 14 nhiệm hỗ trợ, phối hợp, kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện nhiệm vụ của cấp huyện; chính quyền cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra, giám sát, hỗ trợ chính quyền cấp xã, Phƣờng và thực hiện quyền giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn quản lý. - Nguyên tắc tập trung dân chủ: Quản lý Nhà nƣớc về đất đai phải tuân thủ quy định của pháp luật và thực hiện quyền sở hữu toàn dân về đất đai, tạo điều kiện cho ngƣời dân có thể tham gia giám sát hoạt động quản lý nhà nƣớc của chính quyền qua tổ chức Hội đồng nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội cùng cấp. - Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành, địa phƣơng và vùng lãnh thổ: Chính quyền các cấp thống nhất quản lý Nhà nƣớc về đất đai theo địa giới hành chính, tạo sự hài hòa giữa quản lý theo lãnh thổ và quản lý theo chuyên ngành và ngay cả các cơ quan trung ƣơng hoạt động và có quyền kiểm tra, giám sát các cơ quan này trong việc thực hiện pháp luật về đất đai, cũng nhƣ các quy định khác của Nhà nƣớc, có quyền xử lý hoặc kiến nghị xử lý nếu vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành. - Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử [18]: Quản lý Nhà nƣớc của chính quyền phải tuân thủ việc kế thừa các quy định của pháp luật của Nhà nƣớc trƣớc đây cũng nhƣ tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ của cách mạng.
Điều này thể hiện ở việc Nhà nƣớc khẳng định lập trƣờng trƣớc sau nhƣ một với đất đai.