phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý đất nông nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN 1. Khái quát về đất nông nghiệp và quản lý đất nông nghiệp 1. Đất nông nghiệp 1.
Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là đất đƣợc sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Là tƣ liệu sản xuất chủ yếu vừa là tài liệu lao động vừa là đối tƣợng lao động, đặc biệt không thể thay thế của ngành nông - lâm nghiệp. Theo tiêu chuẩn theo FAO - Tổ chức Nông lương của Liên Hợp Quốc thì phân chia đất nông nghiệp vào các thành phần sau đây: - Đất canh tác nhƣ đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn nhƣ ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dƣa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng đƣợc trong nông nghiệp nhƣng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, thoái hóa).
- Vƣờn cây ăn trái và những vƣờn nho hay cánh đồng nho (thông dụng ở châu Âu) - Đất trồng cây lâu năm ví dụ nhƣ trồng cây ăn quả. - Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc. Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tƣới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp đƣợc chia thành đất có tƣới tiêu và không tƣới tiêu (thƣờng xuyên). Ở các nƣớc đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thƣờng đƣợc giới hạn trong phạm vi đất tƣới tiêu.
7 Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó ngoài cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn nhƣ rừng, núi, và các vùng nƣớc nội địa. Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới). Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Căn cứ theo điều 10 của Luật đất đai năm 2013 đất nông nghiệp đƣợc phân chia thành các loại sau đây: [15] Điều 10: Phân loại đất: " 1. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: a) Đất trồng cây hàng năm gồm có đất trồng cây lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ƣơm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh…" 8 1. Đặc điểm của đất nông nghiệp - Đất nông nghiệp là tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế đƣợc của ngành nông - lâm nghiệp. Nó là cơ sở tự nhiên là tiền đề trƣớc tiên của mọi quá trình sản xuất.
Mỗi thửa đất tƣơng ứng với một vị trí nhất định trên vỏ trái đất, nó gắn với địa hình, khí hậu, đặc tính của đất, đất là cố định trong khi nhu cầu về đất không ngừng tăng lên nên giá đất có xu hƣớng tăng; chất đất, bề mặt đất có thể thay đổi dƣới tác động của tự nhiên, nhân tạo… - Đất là tài nguyên thiên nhiên không sinh sản đƣợc. Bởi vì, không giống nhƣ các tƣ liệu sản xuất khác có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Đất nông nghiệp có vị trí cố định không di chuyển đƣợc và có khả năng tái tạo đƣợc. - Đất nông nghiệp bị giới hạn về mặt diện tích, nhƣng sức sản xuất của nó lại là không giới hạn.
Tùy thuộc vào điều kiện đất đai, địa hình và trình độ phát triển kinh tế của từng địa phƣơng mà diện tích đất nông nghiệp đƣa vào canh tác chỉ chiếm tỷ lệ thích hợp. - Đất nông nghiệp là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn của con ngƣời. Đất nông nghiệp đƣợc hình thành do quá trình phong hoá đá và sự tác động của vi sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. và do con ngƣời tiến hành khai phá, đƣa vào sử dụng nhằm phục vụ lợi ích của con ngƣời.
Trong quá trình lịch sử lâu dài đó, lao động của con ngƣời qua nhiều thế hệ đã đƣợc kết tinh vào đó. Do đó, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động. - Đất nông nghiệp không đồng nhất về chất lƣợng do sự khác nhau giữa các yếu tố dinh dƣỡng, thành phần vốn có của nó. Đó là kết quả một mặt là của quá trình hình thành đất, mặt khác quan trọng hơn là quá trình canh tác của con ngƣời.
Độ màu mỡ của đất nông nghiệp nói lên khả năng cung cấp 9 dinh dƣỡng cho cây trồng. Con ngƣời không những chỉ sử dụng độ màu mỡ tự nhiên của đất, mà còn có khả năng làm tăng thêm độ màu mỡ của đất. Ngƣợc lại, nếu sử dụng không hợp lý thì làm giảm độ màu mỡ của tự nhiên. Vai trò của đất nông nghiệp - Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội nhƣ là một tƣ liệu sản xuất đặc biệt.
Trong nông nghiệp, đất đai là chỗ tựa, chỗ đứng, là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Trong công nghiệp, đất đai là nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh… - Đất nông nghiệp trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp của con ngƣời nhằm tạo ra các sản phẩm nông sản hàng hóa. Nếu không có đất nông nghiệp thì sẽ không có quá trình sản xuất nông nghiệp. - Đất nông nghiệp nếu không đƣợc sử dụng hợp lý, không đƣợc bảo vệ, bồi bổ, cải tạo thì không chỉ làm giảm năng suất lao động nông nghiệp mà còn nảy sinh xu hƣớng khai thác quá mức dẫn đến nguy cơ kiệt quệ.
Do đó, quản lý và sử dụng tiết kiệm, hợp lý đất nông nghiệp là trách nhiệm không chỉ của bản thân ngƣời sử dụng đất mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội nhằm góp phần giữ gìn cho môi trƣờng sống trong lành. Khái niệm, nguyên tắc và vai trò của quản lý đất nông nghiệp 1. Khái niệm quản lý đất nông nghiệp Hiện nay, để quản lý và khai thác giá trị của đất, pháp luật đất đai tiến hành phân loại đất theo mục đích sử dụng. Sự phân loại nhằm xây dựng chế độ pháp lý cho từng loại đất.
Tuy nhiên không thể phân loại mục đích sử dụng đất quá chi tiết, quá nhiều loại đất gây khó khăn cho việc thiết kế chính sách, pháp luật về quản lý sử dụng đất; đồng thời gây khó khăn cho việc thống nhất quản lý nhà nƣớc về đất đai. Do đó, Luật đất đai 2013 đã phân ra hai nhóm đất bao gồm đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp. 1 Quản lý đất nông nghiệp là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nƣớc đối với đất nông nghiệp; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất, phân phối và phân phối lại quỹ đất nông nghiệp theo quy hoạch, kế hoạch, kiểm tra, giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, điều tiết các nguồn lợi từ đất nông nghiệp. Nguyên tắc quản lý đất nông nghiệp Một là, đảm bảo sự quản lý tập trung và thống nhất của Nhà nước Đất đai trong đó có đất nông nghiệp là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân.
Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm ngƣời nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình đƣợc. Chỉ có Nhà nƣớc - chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nƣớc trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này đƣợc quy định tại Điều 4, Luật Đất đai 2013 "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý". Hai là, đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người trực tiếp sử dụng.
Quyền sở hữu đất đai đƣợc hiểu là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu kinh tế – xã hội của Nhà nƣớc. Nhà nƣớc không tự mình trực tiếp sử dụng tất cả đất đai mà tổ chức cho toàn xã hội sử dụng đất vào mọi mục đích. Hiến pháp năm 2013 chỉ rõ: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nƣớc, đƣợc quản lý theo pháp luật. Tổ chức, cá nhân đƣợc Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất.
Ngƣời sử dụng đất đƣợc chuyển quyền sử dụng đất, thực hiện các 1 quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. Quyền sử dụng đất đƣợc pháp luật bảo hộ. Nhà nƣớc thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trƣờng hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng.