CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đào tạo nghề 1. Nghiên cứu ngoài nước Các nước trên thế giới luôn đề cao công tác đào tạo nghề nên học sinh được định hướng nghề nghiệp rất tốt ngay khi học phổ thông. Ở Nhật, Mỹ, Đức… người ta xây dựng các bộ công cụ để kiểm tra giúp phân hóa năng lực, hứng thú nghề nghiệp ở trẻ nhằm có định hướng nghề nghiệp đúng đắn từ sớm. Cho nên, họ giáo dục không chỉ phát triển trí tuệ thuần túy mà còn chú ý định hướng cho học sinh về nghề nghiệp phù hợp với năng lực bản thân, đồng thời trang bị cho học sinh kỹ năng làm việc để thích ứng với xã hội, “Trình độ đào tạo công nhân lành nghề ở các nước XHCN phụ thuộc nhiều vào sự kết hợp đúng đắn giữa trường dạy nghề và cơ sở sản xuất…Nếu thiếu nguyên tắc kết hợp dạy học với lao động thì hệ thống dạy nghề không thể đào tạo được công nhân lành nghề” Từ năm 1969, lần đầu tiên trong lịch sử, trường đại học Cambridge với 700 năm lịch sử đã bước vào con đường “Công ty Đại học”… Và ngày nay, xu thế các trường đại học liên kết với doanh nghiệp ngày cảng nhiều ở Mỹ và các nước Châu Âu.
Công ty đại học đang trở thành một xu thế tất yếu, tạo thời cơ phát triển cho trường đại học và xí nghiệp. Ở Nhật và Mỹ, nhiều trường nghề được thành lập ngay trong các công ty tư nhân để đào tạo nhân lực chính cho công ty đó và có thể đào tạo cho công ty khác theo hợp đồng. Mô hình này có ưu điểm là chất lượng đào tạo cao, người học có năng lực thực hành tốt và có việc làm ngay sau khi tốt nghiệp. “Ba trong một” là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ.
Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo của nghề. Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003 và APEC 2020, hệ thống đào tạo nghề ở In- đô-nê-xi-a đã được nghiên cứu và phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp được đặc biệt quan tâm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1999, Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động, hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai.
Nghiên cứu trong nước Dạy nghề là một phần trong hệ thống giáo dục quốc dân. Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Dạy nghề góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của dạy nghề trong việc đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thuật trực tiếp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển dạy nghề nói chung, chính sách dạy nghề cho các đối tượng, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các đối tượng, đặc biệt là các đối tượng khó khăn… có cơ hội học nghề, để tự tạo việc làm, nâng cao mức sống, góp phần vào phát triển kinh tế đất nước và đảm bảo an sinh xã hội.
Điều đó được thể hiện trong các văn bản nghị quyết của Đảng, Quốc hội và chính phủ. Cùng với đó nhiều tài liệu giáo trình về quản lý đào tạo nghề đã được biên soạn và phát hành như: Năm 1999, trường Đào tạo cán bộ công đoàn Hà Nội với đề tài: “Đánh giá thực trạng tay nghề của công nhân Hà Nội”, đề xuất các giải pháp nâng cao tay nghề cho công nhân trong các ngành trọng điểm của Hà Nội. Năm 2002 với bài viết “Đánh giá một cách khách quan nhất công tác đào tạo nghề đã đạt được những thành công nhất định” Lao động& Xã hội của bộ trưởng Bộ LĐTB&XH[11]. Và nhiều tài liệu khác như: “Cải tiến mục tiêu và nội dung đào tạo nghề” (1990); “Phát triển giáo dục nghề nghiệp đáp ứng quá trình đào tạo nguồn nhân lực “(2001), “Đổi mới công tác quản lý trong các trường đào tạo nghề đáp ứng sự nghiệp công ngiệp hóa, hiện đại hóa” (2005) “Định hướng nghề nghiệp và việc làm” (2014) của Tổng cục Dạy nghề v.v… 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đặc biệt, gần đây vấn đề đào tạo nghề được đặc biệt quan tâm, nhiều luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã đi sâu nghiên cứu và tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề.
Có thể kể đến một số công trình có cùng hướng nghiên cứu như: - Nguyễn Quang Huy (2008), Biện pháp quản lý đào tạo nghề Sửa chữa, lắp ráp ô tô ở trường Cao đẳng nghề GTVT TWII Hải Phòng – Luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học Sư phạm Hà Nội. - Đào Hữu Đắc (2011) Biện pháp quản lý đào tạọ nghề công nghệ ô tô ở trường cao đẳng nghề Sông Đà – Luận văn thạc sỹ KHGD, Đại học Sư phạm Hà Nội. - Nguyễn Thị Hằng (2013) Quản lý đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội – Luận án Tiến sỹ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục. Tất cả cho chúng ta thấy các đề tài đã đề cập đến hoạt động đào tạo nghề, chất lượng tay nghề, đổi mới chất lượng đào tạo nghề trong những năm qua và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời gian tới nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Các công trình nghiên cứu khoa học, từ trên những hướng tiếp cận khác nhau, đã cũng đề cập đến những khó khăn, thuận lợi, những nỗ lực và sự chuyển biến tích cực của công tác đào tạo nghề trong những năm qua. Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, sự nỗ lực của Bộ LĐTB&XH mà trực tiếp là Tổng cục Dạy nghề, sự nghiệp dạy nghề đã được phục hồi và đang tiếp tục phát triển mạnh, đạt được một số thành tựu đáng khích lệ: Mạng lưới cơ sở dạy nghề từng bước được phát triển theo quy hoạch. Các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo nghề được cải thiện một bước như: nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học nghề đã được đầu tư, nâng cấp. Phong trào thi đua dạy tốt học tốt trong toàn ngành đã được đẩy mạnh.
Các hoạt động như hội thi tay nghề giỏi các cấp, hội giảng giáo viên dạy nghề, hội thi thiết bị dạy nghề tự làm … đã trở thành hoạt động thường xuyên từ cơ sở dạy nghề đến toàn quốc mang lại hiệu quả thiết thực. Chất lượng và hiệu quả dạy nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực tỷ lệ học sinh, sinh viên tốt nghiệp luôn đạt 96%, khoảng 70% học sinh ra trường tìm được việc làm. Học sinh, sinh viên ra trường đáp ứng được nhu cầu của thị truờng lao động. Kết quả của hoạt động đào tạo tại trường CĐN Long Biên trong những năm qua có những đóng góp đáng kể vào thành tựu chung của toàn ngành song chưa có một nghiên cứu chính thống về mô hình đào tạo đặc trưng này – mô hình đào tạo 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhà trường gắn với doanh nghiệp.
Chính vì vậy việc nghiên cứu hoạt động quản lý hoạt động đào tạo nghề tại trường CĐN Long Biên không chỉ giúp nhà trường kiện toàn công tác tổ chức quản lý đào tạo nghề mà còn góp phần giúp giáo dục nghề nghiệp có những chuyển biến quan trọng đối với việc cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp có năng lực thực hiện công việc đáp ứng yêu cầu chuẩn mực của xã hội trong thời kỳ mới – thời kỳ hội nhập và phát triển.2 Các khái niệm cơ bản về quản lý hoạt động đào tạo nghề May thời trang 1.1 Khái niệm quản lí, quản lí giáo dục 1. Quản lý Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, mỗi lĩnh vực lại có những quan niệm và góc nhìn khác nhau. Quản lý là từ Hán Việt được ghép từ từ “Quản” và từ “Lý” “Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lý” là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển.
Như vậy, Quản lý là trông coi, chăm sóc, sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có tổ chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội hội học, kỹ thuật… nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển. Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tình trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu”.
Khái niệm quản lý được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan niệm theo các cách tiếp cận khác nhau. Theo Mary Parker Follett “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu thông qua nỗ lực của người khác”[12] Theo F.Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.