Chương 1. Cơ sở lý luận về tổ chức QLĐTLT của trƣờng CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam (52 trang) Chương 2. Cơ sở thực tiễn QLĐTLT của trƣờng CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam- Kinh nghiệm quốc tế (50 trang) Chương 3. Giải pháp QLĐTLT của trƣờng CĐCĐ trong điều kiện Việt Nam (57 trang) KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (5 trang) TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC.
20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO LIÊN THÔNG CỦA TRƯỜNG CĐCĐ TRONG ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM 1. TỔNG QUAN VỀ ĐTLT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Ngoài nƣớc Trên thế giới, việc LT giữa các cơ sở đào tạo bậc ĐH đƣợc ghi nhận ở nhiều quốc gia phát triển, chẳng hạn ở Anh, lãnh thổ Đài Loan, Nhật Bản, New Zealand, Australia,…, và Hoa Kỳ. Ban đầu LT đƣợc thực hiện giữa ĐH nhỏ (có CTGD 2 năm) và ĐH lớn (có CTGD 4 năm, hay nhiều hơn) là tạo điều kiện cho ngƣời học, đã xong một CTGD 2 năm, sau đó chuyển tiếp (CT) đến một trƣờng khác để hoàn tất CTGD khác cao hơn, cùng ngành hoặc khác ngành, nhằm đạt văn bằng cao hơn nhƣ cử nhân hay kỹ sƣ, đồng thời đƣợc trƣờng này thừa nhận một số kinh nghiệm học tập có kết quả tốt, đã tích lũy trong quá trình học tập trƣớc.
Ngày nay, LT đƣợc thực hiện rộng rãi và đa dạng, coi nhƣ một phƣơng cách ĐT hữu hiệu và tiết kiệm nhằm giúp ngƣời học thực hiện nguyện vọng học tập suốt đời, và giúp cho các quốc gia muốn mở rộng cánh cửa ĐH cho số đông, đẩy nhanh tiến độ xây dựng xã hội học tập. Lịch sử của việc QLĐT theo hình thức LT và CT ở ĐH thƣờng đƣợc gắn liền với tên tuổi quen thuộc trong giới GDĐH Hoa Kỳ, đó là Giáo sƣ William R. Harper (1856-1906), Viện trƣởng viện ĐH Chicago. Sự nghiệp GD lừng lẫy của ông là để lại cho hậu thế nhiều mô hình GD, trong đó có mô hình mà mãi một thế kỷ sau mọi ngƣời mới biết đấy là “kho tàng vô giá” của GDĐH Hoa Kỳ: các CĐCĐ và đi đôi với nó là vấn đề LT& CT giữa CĐCĐ với các ĐH lớn.
Ngay từ năm 1896, Viện trƣởng Harper đã chia CTGD 4 năm của ĐH Chicago thành hai cấp, gọi là 2 năm đầu (Lower Division) và 2 năm cuối (Upper Division), với chiến lƣợc dự trù cho những CT từ Lower Division lên Upper Division. Ý tƣởng này tuyệt vời ở chỗ: cấp Lower Division (về sau gọi là Junior College) có thể đƣa về tận vùng xa xôi hẻo lánh, nơi mà GDĐH chƣa có hoặc chƣa phát triển, định hƣớng ứng dụng, và do đó, đặt nặng GD kỹ năng nghề nghiệp. Trong khi đó, trƣờng ĐH 4-năm còn Upper 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Division thì đƣợc tổ chức lại tại các đô thị lớn, với cơ sở vật chất đƣợc trang bị mạnh; huy động nhiều giảng viên có trình độ chuyên môn sâu, có thể chuyên tâm nghiên cứu và giảng dạy ở trình độ cao. Nhờ LT & CT nên ngƣời học sau khi hoàn thành 2 năm ở Junior College, không những đƣợc ra trƣờng làm việc phù hợp với khả năng và ngành nghề tại chỗ nhằm phục vụ cộng đồng, mà còn có cơ hội học tiếp ở các ĐH 4-năm (học tiếp Upper Division, còn gọi là Senior).
Điều này cũng có nghĩa ngƣời ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có cơ hội ngang với ngƣời ở thành thị trong hƣởng thụ GDĐH. Năm 1922, sau một thời gian lãnh đạo nhóm nghiên cứu, Leonard Koos cho ấn hành quyển “Trường đại học ngắn hạn” (“The Junior College”), tạo thêm nền tảng vững chắc cho việc thực hiện ĐTLT của loại trƣờng ĐH đặc thù này. Rằng SV chuyển tiếp (Transfer Student) từ ĐH ngắn hạn học không kém so với những SV đăng ký vào ĐH- 4 năm ngay từ đầu. Trƣờng Junior về sau đƣợc gọi là trƣờng CĐCĐ.
Đến năm 1947, khi một Hội đồng, do Tổng thống Truman chỉ định, phát hành bản Báo cáo nghiên cứu “GDĐH cho nền Dân chủ Hoa Kỳ” (“Higher Education for American Democracy”). Ngay lập tức, cả nƣớc chú ý đến trƣờng CĐCĐ và khuyến cáo xây dựng thêm nhiều trƣờng học loại này. Công tác chủ yếu của các trƣờng CĐCĐ là ĐT hai năm đầu: chƣơng trình GDĐC cho CTGD 4 năm (cử nhân, kỹ sư), hầu giúp ngƣời học chuyển tiếp; và chƣơng trình GD nghề nghiệp để ĐT nhân lực có trình độ trung gian giữa bậc kỹ sƣ và lao động phổ thông cho địa phƣơng. Bắt đầu từ thập niên 1960 trở về sau, việc ĐTLT giữa ĐH- 2 năm và ĐH-4 năm đƣợc xây dựng thêm chặt chẽ.
Kế hoạch Tổng thể GDĐH của Tiểu bang California 1968-1975 (Master Plan for Higher Education in California, 1968-1975), không những chỉ CT chƣơng trình GDĐC mà còn LT & CT các chƣơng trình nghề nghiệp khác. Chúng đƣợc xem là hình mẫu của việc ĐTLT trong các CTGD ở ĐH của Hoa kỳ [96, tr. Hiện nay ở Mỹ, trƣờng ĐH là thành viên của một nền GDĐH mang tính phổ cập. Việc ĐTLT đã trở thành vần đề ràng buộc khách quan qua những quy định hay 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể chế từ hệ thống.
Nhƣng về cơ bản ĐTLT của trƣờng CĐCĐ gồm sự LT trong phạm vi một trƣờng và chuyển tiếp từ trƣờng CĐCĐ đến trƣờng ĐH. Các công trình gần đây của L.Bender về ĐT chuyển tiếp của trƣờng CĐCĐ [96], của Trudy H. Bers đóng góp về bộ máy và cơ chế điều hành ĐTLT của trƣờng CĐCĐ [92, tr.247], cũng nhƣ của Tatiana Melguizo và các đồng sự với nhiều ứng dụng của lý thuyết xác xuất và thống kê trong QLĐTLT gây đƣợc nhiều chú ý trong việc tiên lƣợng số SV chuyển tiếp trong một nền kinh tế thị trƣờng rất phát triển là Hoa Kỳ [100, tr. Tuy vậy, việc ĐTLT thực đa dạng, mỗi nơi có cách làm riêng theo luật định của từng tiểu bang.
Ngoài ra, căn bản còn là sự thỏa thuận giữa hai trƣờng và thanh danh của mỗi nhà trƣờng. Sự thừa nhận đƣợc thể hiện qua cơ sở kiểm định công nhận chất lƣợng và uy tín của lãnh đạo các trƣờng hợp tác. Sự thành công kỳ diệu của nền kinh tế, khoa học và công nghệ của Hoa Kỳ khiến nhiều quốc gia học tập [23]. Không những học tập kinh nghiệm xây dựng ĐH có đẳng cấp quốc tế, mà còn học tập mô hình trƣờng CĐCĐ với họat động đặc trƣng: ĐTLT.
Đặc biệt các quốc gia bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh thế giới (nhƣ Nhật Bản, Hàn quốc, Anh, Đức.) hoặc các quốc gia đã phát triển với tốc độ cao rất cần nhanh chóng có nguồn nhân lực qua ĐT (nhƣ Canada, Brazil, Australia, Hàn Quốc, lãnh thổ Đài Loan,…). Trong đó, LT nhƣ một thuộc tính cơ hữu của trƣờng CĐCĐ. Chẳng hạn ở Cộng Hòa Pháp, ĐT nghề ngắn hạn ở bậc ĐH đặc biệt phát triển ở những năm 60, cụ thể trong các nƣớc thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (O. Đó là nƣớc Pháp với việc lập ra “Chứng chỉ kỹ thuật viên cao cấp” vào năm 1962, và sự ra đời vào năm 1966 của các Viện ĐH Công nghệ (IUT) hoạt động kiểu trƣờng CĐCĐ, nhƣng đƣợc đặt trong các trƣờng ĐH tổng hợp [101, tr.
Các IUT này sau thời gian học nghề 2 năm nhận bằng CĐ Công nghệ (DUT). Có các bằng cấp này, SV có thể ra trƣờng làm việc, hoặc LT lên 1 năm để nhận bằng Cử nhân nghề, hoặc CT sang các khoa của trƣờng ĐH tổng hợp (mà IUT là một thành viên) để hoàn thành các bằng cấp cao hơn [98, tr.Trƣờng hợp đó, việc QLĐTLT có thuận lợi hơn, nhƣng không hề đơn giản, bởi các CTGD ngắn hạn (nhƣ bằng 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com DUT) thƣờng mang nặng tính ứng dụng- nghề nghiệp, trong khi trƣờng ĐH tổng hợp thì nhiều khoa lại mang nặng tính nghiên cứu hàn lâm. Trong nƣớc Ở Việt Nam, do lịch sử để lại, trƣớc năm 1975 hầu hết các trƣờng ĐH ở miền Bắc theo mô hình trƣờng ĐH chuyên ngành, ĐT theo yêu cầu của ngành.Việc LT diễn ra thƣờng dƣới hình thức tổ chức các lớp chuyên tu, hoàn chỉnh [39]; Trong khi đó ĐH ở miền Nam áp dụng theo mô hình các viện ĐH đa ngành của Viện ĐH Đông Dƣơng do Pháp để lại từ ngày thành lập, năm 1906 ở Hà Nội [85], và chuyển một số bộ phận vào Nam sau Hiệp định Genève, năm 1954. Áp dụng rập khuôn theo các viện ĐH của Pháp, các Viện ĐH Sài gòn, Viện ĐH Huế, Viện ĐH Cần thơ, Viện ĐH Đà lạt, Viện ĐH Vạn Hạnh,… đã thực hiện việc ĐT theo học chế chứng chỉ.
Cụ thể, văn bằng cử nhân do các Trƣờng ĐH Khoa học, ĐH Văn Khoa, v.cấp gồm có chứng chỉ dự bị (Certificat Propédeutique), phải hoàn tất trong năm đầu và một số, từ 4 (nhƣ ở Trƣờng ĐH Văn khoa) đến 6 (nhƣ ở Trƣờng ĐH Khoa học) chứng chỉ chuyên khoa. Riêng một số chứng chỉ dự bị đƣợc chấp nhận CT để vào học một số trƣờng ĐH khác (nhƣ Y khoa chẳng hạn) mà không phải qua cuộc tuyển sinh. Tuy thế, từ năm 1965, do số SV có chứng chỉ dự bị quá đông, nên họ vẫn phải dự cuộc thi tuyển, chứ không còn đƣơng nhiên đƣợc thu nhận vào ĐH chuyên ngành nhƣ trƣớc [102, tr. Mặc dù vậy, việc CT đƣợc ghi nhận rất giới hạn, trong một số CTGD của các trƣờng ĐH trực thuộc các Viện ĐH quốc gia (để phân biệt với viện ĐHCĐ nhƣ dƣới đây).
Một số rất ít trƣờng hợp đƣợc ghi nhận CT từ viện ĐH này đến viện ĐH khác nhờ còn tùy thuộc vào sự can thiệp trực tiếp của khoa trƣởng hay viện trƣởng. Theo đó, việc QLĐTLT cũng khá đơn giản: ngƣời học chỉ cần mang giấy chứng nhận (certificat) của trƣờng thành viên này, nộp cho trƣờng thành viên kia là đƣợc sắp xếp học liên thông. Kiểm tra cũng rất nhanh gọn, do các trƣờng thành viên nằm trong cùng một Viện Đại học. Trƣờng hợp liên thông ra ngoài viện thì cần có công văn giới thiệu của viện (nhƣng số này không nhiều).
Ngoài các Viện ĐH quốc gia đa ngành vừa kể, ở miền Nam còn có một hệ thống Viện ĐHCĐ đƣợc thành lập trƣớc 1975: ở Tiền Giang (năm 1971); ở Nha 24 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự hình thành các Viện ĐHCĐ ở miền Nam đƣợc xem là bƣớc đầu xây dựng việc LT giữa một cơ sở đào tạo ĐH 2- năm với một cơ sở ĐH lớn. Tuy vậy, việc LT giữa viện ĐHCĐ và viện ĐH lớn vẫn chƣa thực hiện đƣợc cho đến khi miền Nam đƣợc giải phóng. Đặc biệt LT trong nội bộ Viện ĐHCĐ hoàn toàn chƣa đƣợc đề cập do còn quá mới mẻ.